Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Đồng Nai
Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh Đồng Nai
Lực lượng vũ trang nhân dân Đồng Nai ra đời từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945. Đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ tỉnh và được nhân dân che chở nuôi dưỡng, lực lượng vũ trang 3 thứ quân ở Đồng Nai lần lượt hình thành và gắn liền với các phong trào cách mạng của nhân dân, gắn liền với từng bước đi của lịch sử miền Đông Nam Bộ, lịch sử dân tộc.
Trên những chặng đường phát triển, trải qua muôn ngàn khó khăn ác liệt, đối đầu không cân sức với nhiều đơn vị sừng sỏ của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ cùng quân chư hầu và bè lũ tay sai, nhưng lực lượng vũ trang Đồng Nai vừa chiến đấu, vừa xây dựng trưởng thành vững chắc trong sự thương yêu đùm bọc của nhân dân từ rừng núi, nông thôn, đồng bằng đến các đô thị, cuối cùng đã giành thắng lợi vẻ vang.
Đồng Nai là tỉnh của miền Đông Nam Bộ, vùng đất chuyển tiếp giữa Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ và Tây Nguyên, được Trung ương xác định là địa phương nằm trong khu vực trọng điểm kinh tế phía Nam.
Đồng Nai phía Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp tỉnh Bình Dương, Bình Phước, Thành phố Hồ Chí Minh; phía Đông giáp tỉnh Bình Thuận; phía Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Diện tích tỉnh Đồng Nai là 5.903,94 km2. Tỉnh hiện có 11 đơn vị hành chính gồm 9 huyện: Tân Phú, Định Quán, Xuân Lộc, Nhơn Trạch, Long Thành, Thống Nhất, Trảng Bom, Cẩm Mỹ, Vĩnh Cửu, thành phố Biên Hòa và thị xã Long Khánh. Toàn tỉnh có 171 xã, phường, thị trấn. Dân số trên 2.759.673 người với 31 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 92,8%. Có 6 tôn giáo chính chiếm hơn 65% dân số. Thành phố Biên Hòa là đô thị loại 1, là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh và miền Đông Nam Bộ.
Đồng Nai có lịch sử hình thành 320 năm tính từ thời điểm Nguyễn Hữu Cảnh vào xây dựng bộ máy hành chính vào năm 1698.
Từ năm 1861, chính quyền thực dân Pháp tổ chức lại địa lý hành chính tỉnh Biên Hòa, gồm: tỉnh Đồng Nai hiện tại và tỉnh Bình Phước, một phần tỉnh Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 thành công đến tháng 5/1951, tỉnh Biên Hòa gồm tỉnh Đồng Nai hiện tại, tỉnh Bình Phước, một phần tỉnh Bình Dương.
Từ tháng 5/1951 đến tháng 7/1954, 2 tỉnh Biên Hòa và Thủ Dầu Một sáp nhập thành tỉnh Thủ Biên bao gồm: tỉnh Đồng Nai, tỉnh Bình Dương, tỉnh Bình Phước, quận Thủ Đức, quận 2, quận 9 (thành phố Hồ Chí Minh), nhưng không có huyện Long Thành (vì chuyển về tỉnh Bà Rịa - Chợ Lớn).
Từ năm 1957, chính quyền Sài Gòn thành lập tỉnh Long Khánh (gồm các huyện Xuân Lộc, Long Khánh, Định Quán, Tân Phú và một phần phía Bắc huyện Thống Nhất ngày nay). Năm 1959, chính quyền Sài Gòn lại chia cắt thành lập tỉnh Phước Thành, bao gồm cả vùng căn cứ Chiến khu Đ (tức có một phần đất của huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai). Tỉnh Biên Hòa có các huyện Long Thành, Nhơn Trạch, Dĩ An, Tân Uyên, sau có thêm quận Kiệm Tân, Đức Tu (từ năm 1963).
Do yêu cầu nhiệm vụ của kháng chiến tỉnh Biên Hòa nhiều lần tách nhập với các tỉnh Thủ Dầu Một, tỉnh Bà Rịa - Long Khánh. Các tên gọi của tỉnh và các tên gọi có liên quan đến địa giới của tỉnh thời kỳ này là: Biên Hòa, Long Khánh, Thủ Biên, Bà Biên, Bà Rịa - Long Khánh, U1 (đơn vị chiến trường ngang cấp tỉnh, thành lập tháng 9/1965 gồm thị xã Biên Hòa và huyện Vĩnh Cửu; tháng 10/1967 có thêm huyện Trảng Bom) Phân khu 4, phân khu Thủ Biên, tỉnh Tân Phú.
Sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, tháng 1/1976 tỉnh Đồng Nai được thành lập. Năm 1978, đưa huyện Duyên Hải về thuộc Thành phố Hồ Chí Minh. Đến năm 1991, tách 3 huyện ven biển: Xuyên Mộc, Châu Thành, Long Đất về thành lập tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, tỉnh Đồng Nai còn có địa lý hành chính như ngày nay.
Do việc tách nhập cùng các chiến trường khác, nên lực lượng vũ trang tỉnh nhiều lần phải sắp xếp, củng cố cả về Ban Chỉ huy quân sự tỉnh (Tỉnh đội), về bố trí lực lượng, địa bàn đứng chân tác chiến... Cụ thể, sau Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Biên Hòa hình thành nhiều tổ chức vũ trang do những người yêu nước thành lập như: Giải phóng quân quận Châu Thành (Quận ủy Châu Thành - Biên Hòa), Vệ quốc đoàn Biên Hòa (Huỳnh Văn Nghệ), Cộng hòa vệ binh, sau là Vệ quốc đoàn Long Thành (Huỳnh Văn Đạo, Lương Văn Nho). Để thống nhất lãnh đạo chỉ huy các lực lượng kháng chiến trong tỉnh, theo chỉ đạo của Khu ủy Bộ Tư lệnh Khu, ngày 15-5-1946, Tỉnh ủy Biên Hòa triệu tập Hội nghị quân sự toàn tỉnh tại Xóm Đèn (thuộc xã Tân Hòa, huyện Tân Uyên, nay là huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương) và quyết nghị 2 vấn đề lớn: Thống nhất các lực lượng vũ trang gồm du kích trại huấn luyện Sở Tiêu; Giải phóng quân quận Châu Thành; Vệ quốc đoàn Biên Hòa, lấy tên Vệ quốc đoàn Biên Hòa; xây dựng chiến khu Đ thành căn cứ kháng chiến của tỉnh.
Sự kiện ngày 15/5/1946 là một trong những mốc son quan trọng đánh dấu sự ra đời của lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai. Từ đây, lực lượng vũ trang Biên Hòa được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp thống nhất của Đảng; mở ra thời kỳ mới xây dựng và phát triển lực lượng vũ trang của tỉnh từ trên xuống huyện, xã, từng bước hình thành 3 hình thức vũ trang trong tỉnh, đảm bảo sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất, tạo sức mạnh để lực lượng vũ trang thực hiện thắng lợi nhiệm vụ làm nòng cốt trong kháng chiến.
Tháng 10/1945, khi thực dân Pháp quay trở lại đánh chiếm Biên Hòa, lực lượng vũ trang cùng nhân dân Đồng Nai kiên quyết, anh dũng đứng lên kháng chiến. Trong hoàn cảnh khó khăn bỡ ngỡ của buổi đầu đánh giặc, lực lượng vũ trang địa phương chiến đấu anh dũng tiêu hao nhiều sinh lực địch, ngăn chặn giặc mở rộng lấn chiếm, tạo điều kiện củng cố chính quyền cách mạng, xây dựng căn cứ địa kháng chiến, chuẩn bị tinh thần và lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Từ tháng 8/1945 đến tháng 12/1947 là giai đoạn hình thành, thống nhất lực lượng vũ trang Biên Hòa, chiến đấu góp phần đánh bại kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” của thực dân. Sau Hội nghị Quân sự tại Xóm Đèn vào ngày 15-5-1946, đồng chí Huỳnh Văn Nghệ với tư cách Ủy viên quân sự tỉnh đã thống nhất lực lượng Giải phóng quân quận Châu Thành và Biên Hòa thành Vệ quốc đoàn Biên Hòa - cơ sở để thành lập Chi đội 10 Biên Hòa vào tháng 6/1946 (bao gồm cả Vệ quốc đoàn Long Thành). Để tạo điều kiện cho Chi đội 10 hoạt động, Ban Chỉ huy Chi đội quyết định thành lập quận Quân sự (cuối năm 1946 chuyển thành các Ban công tác liên thôn) làm chân rết cho Chi đội 10 cơ động chiến đấu.
Sự ra đời của Chi đội 10 Biên Hòa, các quận Quân sự, Ban công tác liên thôn là một sáng tạo trong hình thành và phát triển lực lượng vũ trang địa phương miền Đông Nam Bộ. Sự kiện này quan trọng bởi là bước đệm hình thành 3 loại hình vũ trang: tập trung, địa phương, du kích dân quân - là cơ sở hình thành ba thứ quân sau này.
Giai đoạn 1948-1951 là thời kỳ phát triển mới của lực lượng vũ trang Biên Hòa. Phong trào du kích phát triển, lực lượng vũ trang địa phương cùng hệ thống dân quân phát triển ba thứ quân từng bước được hình thành. Đặc biệt nổi bật là chiến công giao thông đường bộ, chống càn bảo vệ căn cứ và trên nền chiến tranh du kích phát triển, lực lượng vũ trang Biên Hòa lần đầu tiên đánh hạ tháp canh De La Tour (tên của viên sĩ quan Pháp đã nghĩ ra cách xây dựng tháp canh để phòng thủ) làm xuất hiện cách đánh đặc công và kỹ thuật đặc công.
Về tổ chức lực lượng vũ trang, Chi đội 10 Biên Hòa phát triển lên thành Trung đoàn 310 với 3 tiểu đoàn: Tiểu đoàn Lê Lợi, Tiểu đoàn Quốc Tuấn, Tiểu đoàn Quang Trung với 2.200 quân. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ là Trung đoàn trưởng (sau là đồng chí Nguyễn Văn Lung), đồng chí Võ Cương là Chính trị viên. Đến tháng 10/1949, theo chỉ đạo của Bộ Tư lệnh Nam Bộ, các trung đoàn sáp nhập thành đơn vị lớn chuẩn bị cho “Tổng phản công”. Trung đoàn 301 (Thủ Dầu Một) và Trung đoàn 310 (Biên Hòa) sáp nhập thành Liên Trung đoàn 301-310 tác chiến trên địa bàn Thủ Dầu Một, Biên Hòa, Chiến khu Đ... Các tỉnh đội, huyện đội, xã đội đều được tăng cường củng cố về tổ chức và lực lượng. Bộ đội địa phương huyện được hình thành (như Đại đội Lam Sơn - Vĩnh Cửu, Đại đội Lê Hồng Phong - Long Thành.).
Từ năm 1951 đến tháng 7/1954, theo yêu cầu tổ chức chiến trường, 2 tỉnh Thủ Dầu Một - Biên Hòa hợp nhất thành tỉnh Thủ Biên. Đồng chí Huỳnh Văn Nghệ từ khu trưởng về làm Tỉnh đội trưởng Thủ Biên. Đơn vị vũ trang chủ lực của tỉnh là Tiểu đoàn 303, mỗi huyện đều có đại đội địa phương, hoặc đội vũ trang tuyên truyền (với những vùng địch tạm chiếm như Xuân Lộc hay đô thị như thị xã Biên Hòa). Tỉnh Thủ Biên còn có đội Biệt động tỉnh có hoạt động ở các thị xã, thị trấn. Tăng cường kết hợp vũ trang tuyên truyền với xây dựng cơ sở kháng chiến trong thị xã, thị trấn. Đánh đồn, bót, tháp canh, làm nòng cốt khôi phục phát triển du kích chiến tranh, phối hợp với chiến dịch Điện Biên Phủ (Đông Xuân 1953-1954) góp phần đánh bại thực dân Pháp buộc chúng ký Hiệp định Genève (ngày 20/7/1954).
Lực lượng vũ trang tỉnh có một số trận đánh tiêu biểu nổi tiếng trong kháng chiến chống Pháp như trận tập kích đầu tiên vào các cơ sở đóng quân của thực dân Pháp ở trung tâm tỉnh lỵ Biên Hòa.
Tiếng súng tập kích vào thị xã Biên Hòa nổ vào lúc quân địch bất ngờ nhất, 0 giờ ngày 1 rạng ngày 2/1/1946. Lực lượng tham gia trận tập kích gồm Vệ quốc đoàn Biên Hòa, Giải phóng quân Châu Thành, Liên chi đội 2, 3 Bình Xuyên và Giải phóng quân liên quận Hóc Môn - Bà Điểm - Đức Hòa tập kết về các vị trí áp sát xung quanh thị xã trên các hướng Tân Phong, Hóa An, Bình Đa.
Ta đồng loạt nổ súng vào thành Kèn nơi đóng quân của lính Pháp, các bót gác ở đầu cầu Ghềnh, nhà máy cưa BIF, Sở hiến binh, khu vực nhà bưu điện, nhà ga, hãng dầu, nhà thông tin và các công sở khác. Cả thị xã chìm trong tiếng nổ và lửa khói. Tác giả Nguyễn Văn Quảng, chiến sĩ của phân đội 4 Vệ quốc đoàn Biên Hòa, người trực tiếp tham gia cuộc tập kích mô tả: “Khắp bầu trời thị xã như sôi lên sùng sục pha lẫn sấm sét. Lửa cháy sáng rực. Súng nổ rền trời, lúc đạn đệm theo tiếng nổ ùng ình như pháo đại. Những nơi ta định đến đều đến được, trừ một số hầm nhà cố thủ của bọn địch, ta kiểm soát gần hết thị xã. Gần sáng, quân ta rút về khói đen còn dựng cốt giữa lòng thị xã. Tiếng súng còn lại lác đác nổ. Một đám tù binh Việt gian được trói dẫn lếch thếch theo đoàn quân...”. Do tương quan lực lượng chênh lệch, lại thiếu vũ khí và kinh nghiệm chiến đấu, quân ta sau khi tiến công và làm chủ nhiều nơi trong thị xã đã buộc phải rút lui để bảo toàn lực lượng.
Trận tập kích thị xã Biên Hòa đầu năm 1946 có ý nghĩa lịch sử quan trọng, không ngừng góp phần đập tan luận điệu tuyên truyền xuyên tạc của địch, góp phần cổ vũ tinh thần kháng chiến của nhân dân Biên Hòa nói riêng mà còn đánh dấu bước phát triển mới của lực lượng vũ trang cách mạng. Lần đầu tiên, Vệ quốc đoàn tỉnh Biên Hòa chiến đấu trong đội hình phối hợp nhiều lực lượng với quy mô lớn, chiến đấu vận động tiến công tại địa bàn đô thị. Đó là cuộc tập dượt trong quá trình các đơn vị vũ trang Biên Hòa tiến tới xây dựng thành lực lượng tập trung thống nhất và tiến hành những trận đánh lớn trên chiến trường miền Đông Nam Bộ.
Liên tiếp trong 2 ngày 20 và 22/1/1946 quân Pháp tổ chức các đoàn tàu chiến theo sông Đồng Nai tiến lên Tân Uyên. Các phân đội vệ quốc đoàn Biên Hòa tổ chức trận địa phục kích ở 2 bên bờ sông, thả neo bè cây giữa dòng để buộc tàu địch chạy sát mép nước, sau đó dùng lựu đạn và súng trường bắn hạ địch. Kết quả trong 2 trận phục kích, bộ đội Huỳnh Văn Nghệ bắn hỏng 1 tàu, tiêu diệt và làm bị thương 30 tên địch.
Ngày 24/1/1946 quân Pháp huy động một lực lượng lớn có phối hợp thủy lục không quân gồm 4 ngàn quân, 4 máy bay, 4 tàu và nhiều xe cơ giới tiến công lên căn cứ Tân Uyên. Các phân đội Vệ quốc đoàn Biên Hòa cùng đơn vị bảo vệ căn cứ khu 7 đã bí mật xây dựng trận địa phục kích và chiến đấu anh dũng mưu trí, linh hoạt. Trận đánh diễn ra từ 6 giờ sáng đến 17 giờ cùng ngày. Quân ta tiêu diệt 220 tên địch, đốt cháy 6 xe cam-nhông, bắn chìm 2 tàu chiến đấu, thu nhiều vũ khí, đạn dược; sau đó rút về căn cứ an toàn. Đây là trận chống càn lớn đầu tiên của Vệ quốc đoàn Biên Hòa.
Trận phục kích giao thông La Ngà trên Quốc lộ 20 ngày 1/3/1948 cũng được đánh giá là trận đánh điển hình về lối đánh vận động chiến.
Sáng 1/3/1948, đúng như tin tình báo của ta, đoàn xe địch gồm 70 chiếc xuất phát sớm từ Sài Gòn. Vừa qua khỏi thị xã Biên Hòa, đoàn xe phải dừng lại nhiều lần để khắc phục chướng ngại vật do du kích bố trí hoặc để đối phó với hoạt động bắn tỉa của bộ đội và du kích trên từng chặng. Đến khu vực La Ngà thì trời đã ngã chiều (chậm nhiều giờ so với kế hoạch), đoàn xe vừa hành quân vừa bắn thị uy vào 2 bên đường.
Gần 15 giờ, những chiếc xe đi đầu lần lượt đi qua trận địa phục kích khu vực C, rồi khu vực B. Đúng 15 giờ 2 phút, chiếc thiết giáp mở đường vào đúng chỗ gấp khúc ngoặt trái của khu vực phục kích A, 3 quả địa lôi gài sẵn đã nổ hất tung chiếc xe thiết giáp cùng 2 xe chở lính hộ tống. Viên chỉ huy đoàn xe cùng bộ phận thông tin chết tại chỗ. Mất liên lạc vô tuyến, các bộ phận xe phía sau vẫn tiếp tục nối đuôi nhau tiến lên và dồn đống tại khu vực trận địa A. Các chiến sĩ đại đội B cùng quốc vệ đội Xuân Lộc dùng hỏa lực diệt tiếp chiếc xe chở lính hộ tống thứ 3 và đồng loạt xông ra mặt đường, quân địch bị tê liệt hoàn toàn.
Tại khu vực B, các xe địch lâm vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, lúng túng chống đỡ. Các chiến sĩ của ta chủ động tiến công áp đảo địch ngay từ đầu, đốt cháy 28 xe, tiêu diệt 55 tên lính hộ tống.
Tại khu vực C, cuộc chiến đấu diễn ra quyết liệt. Sau 10 phút giao tranh, các chiến sĩ đại đội A phá hủy 16 xe chở lính, vô hiệu hóa 13 xe vận tải và diệt một số tên địch. Số còn lại dạt xuống phía Đông Quốc lộ 20 và chạy lui về đồn La Ngà. Cùng lúc ấy, tốp cuối cùng có xe thiết giáp hộ tống vừa tới trận địa phục kích, gặp sức tiến công mãnh liệt của ta, vội quay trở lui về phía La Ngà.
Trận đánh kết thúc lúc 15 giờ 57 phút.
Trận La Ngà là chiến thắng quân sự lớn nhất của lực lượng bộ đội tập trung ở miền Đông Nam Bộ tính từ đầu cuộc kháng chiến đến thời điểm đầu năm 1948. Đoàn xe quân sự gồm gần 70 chiếc bị đánh tan. 59 chiếc bị thiêu hủy. Quân ta đã tiêu diệt tại chỗ 150 lính lê dương hộ tống, 25 sĩ quan chỉ huy (trong đó đại tá De Sérigné chỉ huy bán lữ đoàn Lê dương số 13, đại tá Pathuis, Phó tham mưu trưởng thứ nhất quân viễn chinh Pháp ở Nam Đông Dương, thiếu tá chỉ huy khu Hóc Môn và đại úy trưởng phòng xe hơi hộ bộ tham mưu quân viễn chinh), bắt sống trung úy Joeffrey chỉ huy đội hộ tống, thu nhiều vũ khí và đồ dùng quân sự.
Chiến thắng La Ngà gây chấn động sâu sắc trong dư luận trong nước, và nước Pháp. Quốc hội Pháp chất vấn Chính phủ về trận La Ngà, viên Đại tá Talles chỉ huy trưởng khu vực Đồng Nai Thượng tự tử. Số tù hàng binh được thả và hành khách đi theo đoàn xe, trong đó có nhiều trí thức, doanh nghiệp Pháp sau đó đã tuyên truyền rộng rãi về cuộc kháng chiến chính nghĩa của Việt Minh.
Trận đánh tháp canh cầu Bà Kiên (Tân Uyên, Biên Hòa) ngày 19/3/1948 cũng là một trong những trận đánh nổi tiếng của lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa lúc ấy.
Đêm 18 rạng 19/3/1948, Tổ du kích Tân Uyên gồm 4 chiến sĩ và 1 cơ sở mật tổ chức đánh tháp canh cầu Bà Kiên trên tỉnh lộ 16. Vũ khí mang theo gồm 1 súng, 10 lựu đạn (1 của Mỹ, 9 tự tạo) và 1 thang tre (dùng để hái trầu mượn của dân). Trận đánh diễn ra đúng như phương án tập luyện. 3 chiến sĩ xung kích: Trần Công An, Hồ Văn Lung, Trần Văn Nguyên leo lên thả lựu đạn qua lỗ châu mai vào cả trong 3 tầng tháp. Bên ngoài du kích Nguyễn Văn Ai cầm súng gác ở đầu cầu sẵn sàng bắn chi viện và Trần Văn Hỏi (cơ sở mật) giữ cửa mở. Kết quả, tuy tường tháp không đổ nhưng cả 11 tên lính bị tiêu diệt. Ta thu 8 súng và 20 lựu đạn.
Chiến thắng cầu Bà Kiên gây tiếng vang lớn, có giá trị lịch sử quan trọng, là trận đầu tiên trong điều kiện chưa có vũ khí du kích Tân Uyên (Biên Hòa) phá được tường tháp. Cách đánh bí mật tiếp cận mục tiêu của du kích địa phương là cơ sở để Bộ Tư lệnh miền Đông nghiên cứu về vũ khí, về kỹ thuật, tổ chức, trang bị cho bộ đội thực hiện nhiệm vụ đánh tháp canh, đánh bại chiến thuật De La Tour. Kỹ thuật đánh tháp canh hình thành từng bước, là sự đóng góp của lực lượng vũ trang Biên Hòa. Sau trận đánh cầu Bà Kiên ngày 19/3/1948, Bộ Tư lệnh miền Đông tổ chức hội nghị bàn chuyên đề đánh tháp canh, nghiên cứu chế tạo loại vũ khí có khả năng đánh áp sát, phá được tường tháp canh cho bộ đội tỉnh.
Ngày 23/3/1950, lực lượng vũ trang Biên Hòa ra quân đồng loạt đánh 50 tháp canh dọc các quốc lộ 14, 13, tỉnh lộ 16, các tháp canh thủng lỗ nhưng không sập. Công binh xưởng tiếp tục nghiên cứu cải tiến mìn FT (phá tường), tăng cường mìn (Bêta). Ngày 19-4-1950, tháp canh Vàm Giá (quốc lộ 14) bị đánh sập hoàn toàn bằng vũ khí FT và Bêta với kỹ thuật tiếp cận bí mật mục tiêu, đánh bất ngờ... Kỹ thuật đánh tháp canh đã được Bộ Tư lệnh Nam Bộ tuyên dương, những chiến sĩ đánh tháp canh được gọi “Bộ đội Đặc công”. Đơn vị đại đội Nguyễn Văn Nghĩa (Tân Uyên) được công nhận là đơn vị đặc công đầu tiên.
Từ năm 1950, kỹ thuật đặc công được phổ biến trong toàn tỉnh, về miền Tây Nam Bộ, ra miền Trung cực Nam Trung Bộ và ra cả miền Bắc. Ngoài đặc công đánh bộ, lực lượng vũ trang tỉnh còn xuất hiện đặc công đánh thủy.
Kỹ thuật đánh tháp canh được phổ biến góp phần làm thất bại chiến thuật De La Tour của Pháp ở miền Đông, góp phần hình thành kỹ thuật và lực lượng bộ đội đặc công. Ngày 19/3/1967, Bác Hồ ký sắc lệnh thành lập binh chủng Đặc công đặc biệt tinh nhuệ, lấy ngày 19/3, ngày đánh tháp canh cầu Bà Kiên, làm ngày truyền thống của binh chủng. Đây là đóng góp tiêu biểu, xuất sắc của phong trào du kích chiến tranh Biên Hòa nói chung và lực lượng vũ trang nói riêng cho phong trào giải phóng dân tộc của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Bên cạnh đó phải kể đến trận đánh tiêu diệt yếu khu Trảng Bom ngày 20/7/1951. Chiều 20/7/1951, lực lượng tham gia trận đánh hành quân đến vị trí tập kết đúng quy định. 16 giờ, theo thường lệ, 2 xe cam-nhông chở 75 công nhân (do 25 chiến sĩ đại đội Nguyễn Văn Nghĩa, cán bộ chiến sĩ đại đội 55 tiểu đoàn 303 và đội Biệt động tỉnh Thủ Biên hóa thân) đi làm về từ Bàu Cá chạy về hướng Trảng Bom. 16 giờ 15 phút, bọn lính trong Chi khu tỏa ra sân banh đá bóng. 2 xe cam-nhông chạy tới ngang cổng chi khu bất ngờ dừng lại. Bộ đội nhanh chóng nhảy ra khỏi xe, giết tên gác cổng và xông vào dùng bộc phá đánh các lô cốt, chiếm xe bọc thép. Cùng lúc trong tiếng kèn đồng giục giã, Đại đội 60 ào lên đánh chiếm các vị trí trong Khu trung tâm, Đại đội Lam Sơn đánh chiếm đồn lính Pat-tidan cạnh sân banh. Bị bất ngờ, quân địch trong chi khu và ngoài sân banh không kịp chống trả bỏ chạy toán loạn.
Sau 30 phút chiến đấu, quân ta tiêu diệt 50 lính Âu Phi, bắt sống 50 tên khác, phá hủy 1 xe tăng, thu 200 súng các loại (trong đó có 3 đại liên, 6 trung liên, 2 súng cối 81 ly) hàng chục tấn đạn dược, lương thực, thực phẩm và 5 ngàn đồng tiền Đông Dương. Các chiến sĩ dùng xe Cam-nhông chở toàn bộ chiến lợi phẩm về Chiến khu Đ an toàn.
Chiến thắng Trảng Bom gây tiếng vang lớn trên chiến trường Biên Hòa và các tỉnh miền Đông Nam Bộ. Tiểu đoàn 303 chỉ sau một thời gian ngắn củng cố, đã lập một chiến công xuất sắc. Đây là trận đánh lớn của bộ đội tập trung tỉnh kể từ sau chiến thắng La Ngà năm 1948.
Sau khi ký Hiệp định Genève năm 1954, thực hiện chủ trương tập kết bộ đội ra Bắc, lực lượng vũ trang tỉnh Đồng Nai giải thể. Tỉnh chỉ còn lại những cán bộ chính trị và một ít cán bộ quân sự, hoạt động bí mật, bán công khai lãnh đạo quần chúng đấu tranh dân sinh - dân chủ, đòi thi hành Hiệp định Geneve, chống khủng bố người kháng chiến, gia đình cách mạng, trong tình hình địch tiến hành xây dựng bộ máy đàn áp, khủng bố phong trào do cộng sản lãnh đạo.
Điểm nổi bật ở Biên Hòa là biết lợi dụng mâu thuẫn nội bộ và mâu thuẫn chính trị ở Sài Gòn để xây dựng cơ sở, trong đó có việc đưa Tiểu đoàn 3 do Võ Văn Môn chỉ huy (thuộc lực lượng Bình Xuyên chống chính quyền Ngô Đình Diệm) bị lùng quét từ
Rừng Sác về Chiến khu Đ để từng bước bổ sung và chuyển hóa thành lực lượng vũ trang cách mạng. Bí mật xây dựng lực lượng vũ trang, ta dùng danh nghĩa Bình Xuyên để vũ trang tuyên truyền hỗ trợ phong trào quần chúng đấu tranh chính trị (như chống bầu cử Quốc hội).
Từ tháng 7/1957, Tỉnh ủy Biên Hòa bí mật xây dựng Đại đội 250 (C250) sau chuyển về liên tỉnh miền Đông. Cùng lúc, vùng Chiến khu Đ hình thành nhiều đơn vị vũ trang như C50, C9 hoạt động cùng với danh nghĩa lực lượng Bình Xuyên. Các lực lượng vũ trang tổ chức đánh Minh Thạch, Lò Than..., chống địch phá rừng, phá Chiến khu Đ.
Điểm nổi bật thời kỳ này là một bộ phận vốn là lực lượng vũ trang của Biên Hòa tham gia đoàn C200 (do đồng chí Nguyễn Trọng Tâm làm chỉ huy) từ cuối năm 1959 đến đầu năm 1960, soi đường từ Chiến khu Đ theo hướng Bắc để nối thông liên lạc với đoàn B90 mở đường từ miền Bắc vào theo đường bộ. 2 đoàn gặp nhau vào ngày 31/10/1960 tại vàm Dak R’tik (nay thuộc tỉnh Đắc Nông) - đường Nam Bắc, đường Trường Sơn mở ra nối từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa đến Chiến khu Đ.
Trong giai đoạn Đồng Khởi 1960-1965, về tổ chức chiến trường có tỉnh Biên Hòa và tỉnh Long Khánh (địch có tỉnh Phước Thành). Lực lượng vũ trang tỉnh Biên Hòa có đại đội địa phương 240 (C240), tỉnh Long Khánh có bộ đội địa phương, đại đội du kích Cao su sau Đồng Khởi 1960 cũng được thành lập. Vào tháng 2/1961, thành lập Tiểu đoàn 500 sau đổi thành 800 Quân khu (chủ lực đầu tiên miền Đông) hoạt động ở Chiến khu Đ, Biên Hòa, Bà Rịa. Sau đó đến năm 1964, có 2 trung đoàn chủ lực Miền đứng chân là Q761 và Q762. Nhiệm vụ của lực lượng vũ trang giai đoạn này là mở rộng căn cứ Chiến khu Đ; đánh phá ấp chiến lược, mở vùng giải phóng (đánh bại chiến lược chiến tranh đặc biệt).
Một hoạt động vũ trang của D800 cùng địa phương đánh địch ở Tân Uyên, Vĩnh Cửu. Trong đó, phải kể đến trận đánh diệt tiểu khu Phước Thành (ngày 19/8/1961) mở rộng Chiến khu Đ, đánh bại âm mưu chia cắt đánh phá căn cứ của địch; trận đánh diệt chi khu Hiếu Liêm vào năm 1964, trận dùng 3 mũi bao vây bứt rút đồn Trị An, mở rộng chiến khu Đ về phía Nam, mở hành lang giao liên từ Chiến khu Đ vượt sông Đồng Nai về Biên Hòa xuống Bà Rịa - Long Khánh.
Phong trào chiến tranh nhân dân phát triển trong toàn tỉnh, lấy lực lượng vũ trang địa phương làm nòng cốt để kết hợp 3 mũi. Nắm thời cơ địch làm đảo chính lật đổ chính quyền Ngô Đình Diệm, nội bộ rối ren, ta mở đợt tiến công đánh phá ấp chiến lược, giải phóng nhiều xã, ấp dọc lộ 24, lộ 16, quốc lộ 15, lộ 17, 19 (Long Thành - Nhơn Trạch) và liên tỉnh lộ 2, lộ 1 (Xuân Lộc).
Trận tập kích bằng pháo đầu tiên vào sân bay chiến lược quân sự Biên Hòa của đoàn pháo binh U80, phá hủy nhiều máy bay phương tiện chiến tranh của Mỹ và quân đội Sài Gòn vào ngày 31/10/1964.
Trong chiến dịch Đông Xuân 1964-1965, Tiểu đoàn 800 Quân khu, Đại đội 240 Biên Hòa mở một loạt trận đánh giao thông trên quốc lộ 15 (Quốc lộ 51 ngày nay) thu hút địch để chiến dịch Bình Giã giành thắng lợi lớn.
Trong giai đoạn 1965-1968, thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ, quân viễn chinh Mỹ vào trực tiếp làm nhiệm vụ tìm diệt, hỗ trợ quân đội Sài Gòn thực hiện kế hoạch bình định. Mỹ mở rộng sân bay Biên Hòa, mở rộng kho bom Thành Tuy Hạ, xây dựng tổng kho Long Bình, căn cứ Hốc Bà Thức...
Trong khi đó vào tháng 9/1965, Trung ương Cục lập tỉnh Biên Hòa (U1) gồm huyện Vĩnh Cửu, thị xã Biên Hòa (vào tháng 10¬1967 có thêm huyện Trảng Bom). Tỉnh đội U1 do đồng chí Trần Công An làm tỉnh đội trưởng. Ngoài ra còn có 2 Đại đội Đặc công, Đại đội 238 đứng chân đồi Giang Tói (Đại An - Vĩnh Cửu). Các huyện đều có đại đội vũ trang, nhiệm vụ của tỉnh Biên Hòa U1 là đánh diệt các phương tiện chiến tranh Mỹ và tay sai các cơ quan đầu não, diệt sinh lực địch hỗ trợ chiến trường chung và phong trào đô thị. Do Biên Hòa, Long Khánh là chiến trường quan trọng, lực lượng vũ trang khu tăng cường Trung đoàn 4.
Tháng 4/1966, Trung ương Cục, Bộ Tư lệnh Miền thành lập Đặc khu Rừng Sác gồm 10 xã của Nhơn Trạch, Cần Giờ với nhiệm vụ chặn sông Lòng Tàu - cửa ngõ địch từ Biển Đông vào miền Nam, vào Sài Gòn. Tư lệnh là đồng chí Lương Văn Nho. Lực lượng vũ trang Đặc khu Rừng Sác sau chuyển thành Đoàn 10 đặc công Rừng Sác.
Trong cuộc tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968 ở Biên Hòa, Long Khánh, lúc ấy Biên Hòa có sự tham gia của Sư đoàn 5, đặc công Biên Hòa, đơn vị pháo tên lửa 274. Ta đánh sân bay Biên Hòa, tổng kho Long Bình, Bộ Tư lệnh Quân đoàn 3, thực hiện tiến công nổi dậy làm chủ nhiều nơi dài ngày như: Công Thanh (Vĩnh Cửu), Bình Sơn (Long Thành). Long Khánh ngoài D445 có thêm D440, tấn công Tiểu khu Long Khánh và nhiều điểm trong thị trấn. Đặc biệt, cuộc tổng tiến công nổi dậy năm 1968 ở Biên Hòa có ý nghĩa lớn, chia lửa với Sài Gòn và các đô thị lớn. Cuộc tổng tiến công nổi dậy Xuân 1968 góp phần buộc Mỹ ngồi vào bàn đàm phán Paris, làm thất bại chiến lược Chiến tranh cục bộ và từng bước xuống thang chiến tranh.
Giai đoạn từ 1969-1972 là thời kỳ sau Mậu Thân, Mỹ bắt đầu xuống thang nhưng vẫn thực hiện càn quét, đẩy lực lượng cách mạng ra xa đô thị, tiến hành bình định cấp tốc. Trong những năm bị địch phản kích ác liệt, nhất là thời kỳ 1969-1971, trên chiến trường Biên Hòa lực lượng vũ trang và nhân dân Đồng Nai đã phải chịu đựng sự đánh phá khốc liệt của kẻ thù: Bom B52 đánh phá rải thảm liên tục, pháo bầy, trực thăng, phản lực ném bom, bắn phá, chất độc hóa học, bom đạn của kẻ thù hủy diệt môi trường, địa hình, cùng những cuộc hành quân càn quét của bộ binh, biệt kích Mỹ, ngụy, Úc, Thái Lan, làm cho chiến trường Biên Hòa - Long Khánh bị chia cắt, không còn một nơi nào được gọi là an toàn. Cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang khi trú quân phải đào hầm, ngủ hầm lúc hành quân thường bị địch phục kích gây thương vong, tổn thất...
Nhưng với quyết tâm không để mất dân, mất đất, các lực lượng vũ trang của tỉnh đã kiên trì bám trụ, phát huy tinh thần tự lực, tự cường, sáng tạo gắn chặt với quần chúng. Nhờ bám trụ mà tấn công được giặc, nhờ bám trụ mà bảo toàn được lực lượng và chiến trường Đồng Nai thời kỳ nào, lúc nào cũng vang tiếng súng tấn công. Bám trụ đã trở thành một khoa học quân sự độc đáo, thể hiện ý chí, nghệ thuật quân sự của Đảng bộ, quân dân Đồng Nai trong chiến tranh giải phóng dân tộc, nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Biên Hòa mở đầu năm Kỷ Dậu bằng cuộc tiến công Xuân 1969. Lực lượng vũ trang Biên Hòa gồm đặc công, biệt động phối hợp Sư đoàn 5 tiến công vào các mục tiêu trong thành phố Biên Hòa: Ty Cảnh sát, ga xe lửa, kho Long Bình. Biên Hòa là tỉnh gần như duy nhất ở miền Đông thực hiện đúng chỉ đạo của Trung ương Cục và Bộ Tư lệnh Miền về tiến công Xuân Kỷ Dậu 1969. Điều đáng quý là cho dù địch càn quét ác liệt các vùng căn cứ đặc biệt khu vực Long Thành, Nhơn Trạch, Rừng Sác bao nhiêu thì lực lượng vũ trang địa phương tỉnh, huyện, xã đều bám trụ đánh địch bấy nhiêu.
Ngày 18/3/1970, Mỹ bật đèn xanh cho Thủ tướng Lol Nol lật đổ Quốc vương Sihanuc tại Campuchia, mở rộng chiến tranh ra Đông Dương nhưng đây cũng là thời cơ để phong trào cách mạng miền Nam khôi phục và phát triển.
Miền Đông mở chiến dịch CD1970, đánh địch ở lộ 3, lộ 2 thu hồi vùng giải phóng, đồng thời, đẩy mạnh hoạt động võ trang biệt động ở thị xã, thị trấn., tập kích vào các căn cứ quân sự, trại huấn luyện của địch.
Từ tháng 3/1972, các lực lượng vũ trang tham gia chiến dịch Nguyễn Huệ. Đặc biệt ở Long Thành, Bình Sơn, Trung đoàn 4 cùng Tiểu đoàn 240 Biên Hòa đánh tiêu diệt nhiều đơn vị Bảo an, Sư đoàn 18 ở Bình Sơn - Long Thành, hỗ trợ phong trào phát triển, khôi phục vùng giải phóng và làm chủ.
Ngày 3/6/1972, Bộ tư lệnh Miền thành lập đoàn Đặc công 113 ở Mã Đà, trên cơ sở 2 Tiểu đoàn Đặc công của Biên Hòa (U1). Đồng chí Nguyễn Thanh Tùng làm Đoàn trưởng. Đơn vị đã tổ chức tập kích sân bay chiến lược Biên Hòa và tổng kho Long Bình, gây cho địch thiệt hại nặng, hỗ trợ chiến trường toàn miền, góp phần thắng lợi quân sự buộc Mỹ ký Hiệp định Paris ngày 27/1/1973.
Giai đoạn đầu năm 1973, tuy có lựng khựng sau Hiệp định Paris nhưng khi có Nghị quyết số 21-NQ/TW, Nghị quyết số 12- NQ/TW của Trung ương Cục miền Nam (tháng 1/1974), phong trào cách mạng nói chung, hoạt động lực lượng vũ trang có bước phát triển mới.
Về tổ chức, vào tháng 10/1973, Trung ương Cục miền Nam thành lập tỉnh căn cứ Tân Phú nối liền với Chiến khu Đ mở rộng nhằm chuẩn bị một bước có cơ sở xây dựng hành lang, tuyến hậu cần bảo đảm cho các binh đoàn chủ lực Miền hoạt động ở miền Đông.
Tháng 7/1974 Quân đoàn 4 thành lập (gồm sư đoàn 341- tức Sư đoàn 1, Sư đoàn 7 và Sư đoàn 6 Quân khu 7 phối thuộc và Trung đoàn 95b). Nhiệm vụ là đánh địch bình định, lấn chiếm khôi phục vùng làm chủ trước ngày ký Hiệp định Paris. Đặc biệt phong trào đánh địch trong thị xã phát triển, nhất là ở thị xã Long Khánh của biệt động.
Năm 1974, Bộ Tư lệnh Quân khu mở chiến dịch lộ 2 thu hồi vùng giải phóng.
Mùa khô 1973-1974 và mùa mưa 1974 chiến sự diễn ra hết sức ác liệt, lực lượng vũ trang địa phương có sự hỗ trợ đắc lực của bộ đội Quân khu mở được vùng đứng chân tương đối vững chắc, giữ được hành lang quan trọng nối liền từ Chiến khu Đ qua lộ 20 về lộ 1, lộ 15; xây dựng phát triển cơ sở, mở vùng làm chủ cho quần chúng, tạo thêm điều kiện thuận lợi cho bước phát triển trong mùa khô 1974-1975.
Mùa khô 1974-1975, chuẩn bị cho kế hoạch giải phóng theo chỉ đạo của Trung ương, lực lượng vũ trang tăng cường hoạt động đánh địch trên lộ 1, lộ 20. Ta đánh bức rút địch từ căn cứ 1 đến căn cứ 5 (từ Rừng lá Xuân Lộc ra Hàm Tân), giải phóng lộ 1. Thời gian này xuất hiện nhiều điển hình dùng 3 mũi bức rút, buộc địch đầu hàng, tiêu biểu là trận bức đồn Bảo Chánh đầu năm 1975.
Bước vào chiến dịch Hồ Chí Minh, Tỉnh ủy, Tỉnh đội Biên Hòa đã tiến hành nhanh việc quán triệt tình hình, nhiệm vụ quan trọng trước mắt. Yêu cầu chung là “Nắm lấy thời cơ địch đang tan rã, khẩn trương tập trung mọi lực lượng vũ trang, bán vũ trang và quần chúng tấn công quét sạch địch trong các chi khu, căn cứ: Long Thành, Nhơn Trạch, Khu kho Thành Tuy Hạ, căn cứ Nước Trong, kho Long Bình, yếu khu Trảng Bom, Chi khu Công Thanh... và toàn bộ bộ máy kìm kẹp của địch từ ấp, xã, huyện, tỉnh”.
Trong chiến dịch mùa Xuân năm 1975, Biên Hòa là chiến trường nóng bỏng. Xuân Lộc được địch xây dựng thành “cánh cửa thép” án ngữ hướng Đông Bắc Sài Gòn. Sau 12 ngày đêm (từ ngày 9/4 đến 21/4/1975) quyết chiến, quân đoàn 4 và vũ trang Bà Rịa - Long Khánh đã đập tan cánh cửa này vào ngày 21/4/1975 để đại quân ta tiến vào giải phóng Biên Hòa, Sài Gòn.
Trước khi Chiến dịch Xuân Lộc nổ ra, lực lượng vũ trang địa phương đã làm chủ quanh thị xã Long Khánh, chuẩn bị địa bàn cho Quân đoàn 4.
Đặc biệt từ ngày 14/4 đến 17/4/1975, Sư đoàn 6 cùng lực lượng địa phương diệt Chiến đoàn 52, Sư đoàn 18 ở Dầu Giây cùng với lực lượng vũ trang Tân Phú giải phóng Tân Phú, Định Quán, cắt đứt lộ 20, lộ 1, cắt sự chi viện của địch từ Quân đoàn 3 (Biên Hòa) lên, đánh chiếm các cao điểm Núi Thị, Con Rắn buộc địch ở Xuân Lộc rút chạy theo đường lộ 2.
Trong thành phố Biên Hòa, từ ngày 9/4/1975, đồng chí Phan Văn Trang, Bí thư Thành ủy Biên Hòa, theo đường giao liên công khai vào nội thành triển khai kế hoạch tiến công và nổi dậy giải phóng thành phố. Thành ủy chỉ đạo thành lập các Ủy ban khởi nghĩa ở nội ô và các xã ven khu kỹ nghệ Biên Hòa, chuẩn bị băng cờ, khẩu hiệu, loa phát thanh; tổ chức cơ sở mật nắm được 9 đội phòng vệ dân sự, biến tổ chức này thành lực lượng cùng với nhân dân nổi dậy giành chính quyền khi thời cơ đến.
Đêm 29/4, Ủy ban khởi nghĩa Bình Trước đã vận động quần chúng, tự vệ mật phá nhà lao tỉnh Biên Hòa, giải thoát hàng trăm tù nhân. 6 giờ sáng 30/4, đảng viên mật của chi bộ chợ Biên Hòa là Trương Thị Sáu được cơ sở mật là nội tuyến của ta trong biệt động quân bảo vệ đã hạ cờ ba que, kéo cờ Mặt trận ở cột cờ Dinh tỉnh trưởng Biên Hòa. Cùng thời gian, các cơ sở mật bên trong đã thượng cờ Mặt trận ở Dinh Tư lệnh Quân đoàn 3 (nay là Nhà Thiếu nhi Đồng Nai), Chi khu Đức Tu, giải phóng hoàn toàn Khu kỹ nghệ Biên Hòa. 10 giờ 30, Ủy ban khởi nghĩa tỉnh Biên Hòa cùng Trung đoàn 5, Sư đoàn 6 tiến vào Tòa hành chánh Biên Hòa trước rừng người và cờ hoa chào đón 2 bên đường Trịnh Hoài Đức (nay là đường 30/4).
Trong giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, lực lượng vũ trang Đồng Nai có một số trận đánh tiêu biểu. Một trong số đó là trận tập kích vào trụ sở Đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) ở Tân Mai (Biên Hòa) vào đêm 7/7/1959, diệt 2 cố vấn quân sự Mỹ đầu tiên trên chiến trường miền Nam.
Đêm 5/7/1959 từ Chiến khu Đ, cán bộ, chiến sĩ bộ phận đại đội 250 về đến Gò Cây Trâm Muối, xã Tân Phong. Đêm 6-7, ta ém quân ở vạt rừng chồi Gò Me, ấp Lân Thành cách nhà máy cưa BIF (Nhà Xanh) vài trăm mét. 19 giờ ngày 7/7/1959, các chiến sĩ và lực lượng tự vệ mật thị xã đã triển khai đội hình, tiếp cận các mục tiêu đã định. 19 giờ 15 phút trận tập kích bắt đầu, sau hơn 10 phút nổ súng tiến công, ta đã tiêu diệt 2 tên cố vấn Mỹ và bắn bị thương một số tên khác. Đây được coi là 2 quân nhân Mỹ chết trận đầu tiên trong chiến tranh Việt Nam (sau năm 1954).
Trận đánh diễn ra chớp nhoáng, tất cả các đơn vị địch đều không kịp trở tay, kể cả số lính bảo vệ nằm sát cư xá. Theo phương án đã vạch sẵn, bộ đội ta rút về Chiến khu Đ an toàn. Các tự vệ mật cũng nhanh chóng phân tán về các địa điểm tập kết, giấu vũ khí, thay đổi trang phục trở lại cuộc sống bình thường của người dân thị xã.
Trận đánh phái đoàn cố vấn quân sự Mỹ (MAAG) đóng tại nhà máy cưa BIF (Biên Hòa) là trận đánh Mỹ đầu tiên của quân dân miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
Kế đến là trận đánh Phước Thành diễn ra đêm 17 rạng sáng 18/9/1961. Lực lượng vũ trang địa phương tỉnh Phước Thành gồm 1 trung đội của tỉnh, 1 trung đội huyện Phú Giáo, 2 tiểu đội huyện Tân Uyên và du kích các xã làm nhiệm vụ chặn viện, phá hoại, nghi binh và phối hợp đánh nhỏ với mặt trận chính. Sau 1 giờ 30 phút chiến đấu, Tiểu đoàn 800 tiêu diệt và làm tan rã hoàn toàn lực lượng chiếm đóng gần 2 ngàn tên gồm: 1 tiểu đoàn biệt động quân, 1 tiểu đoàn bảo an, 1 chi đội thiết giáp, 1 đại đội pháo 105 ly, 1 đại đội bảo an, 1 đại đội cảnh sát dã chiến, 1 đại đội dân vệ. Trận đánh đã tiêu diệt hoàn toàn Tiểu khu Phước Thành, Chi khu Phú Giáo cùng toàn bộ bộ máy hành chính của địch, thu trên 4.l00 súng các loại và rất nhiều quân trang, quân dụng, giải thoát gần 300 tù chính trị.
Những ngày tiếp theo, phát huy chiến thắng Phước Thành, các lực lượng vũ trang địa phương tỉnh tiếp tục bao vây, tấn công địch, mở rộng Chiến khu Đ.
Đặc biệt, trận pháo kích bằng pháo đầu tiên vào sân bay quân sự Biên Hòa ngày 30/10/1964 của Đoàn U80 (sau này là Đoàn Pháo binh Biên Hòa) là chiến công vang dội của quân dân trong tỉnh. Trận đánh này có sự phối hợp của đội trinh sát biệt động thị xã Biên Hòa, bộ đội du kích huyện Vĩnh Cửu và cơ sở mật phục vụ, hướng dẫn đường, xây trận địa tại Hốc Bà Thức (Tân Phong) cách sân bay Biên Hòa 1.000 mét về phía Đông Bắc.
23 giờ 30 ngày 31/10/1964, pháo cối ta bắt đầu cấp tập bắn vào sân bay Biên Hòa. Chỉ trong vòng 15 phút, 130 quả đạn cối rơi gọn và chính xác xuống các mục tiêu, phá hủy 59 máy bay, trong đó có 21 máy bay B57, loại máy bay tối tân của Mỹ lúc bấy giờ mới đưa từ Philippin sang chuẩn bị gây tội ác ở miền Bắc, 11 máy bay ADD6, 1 máy bay do thám U2, diệt và làm bị thương 293 tên địch, tiêu hủy và làm nổ tung 2 kho bom đạn lớn, 1 kho xăng, 1 đài quan sát và 18 trại lính. Địch không kịp phản kích, lực lượng ta rút về căn cứ an toàn.
Chiến thắng của trận đánh sân bay Biên Hòa làm nên một chiến công mang tầm vóc lịch sử, gây cho không quân Mỹ một “sự kiện chưa có tiền lệ”, “một tổn thất ngang với những tổn thất tồi tệ nhất trong chiến tranh thế giới thứ hai” (trích quyển Giải phẫu một cuộc chiến tranh của Gabriel Kolko).
Đây là trận đánh táo bạo, bất ngờ, lần đầu tiên pháo binh Miền tận dụng yếu tố bí mật, kết hợp với lực lượng địa phương và phong trào cách mạng của quần chúng nhân dân luồn sâu vào lòng địch, dùng lực lượng nhỏ đánh mục tiêu lớn và quan trọng, đồng thời khắc phục có hiệu quả những hạn chế, nhược điểm của vũ khí đạn dược, cơ động nhanh chóng, bám sát mục tiêu, bắn tập trung, đạt hiệu suất cao, mở đầu cho những trận pháo kích, tập kích vào các vị trí mục tiêu chiến lược quan trọng của quân Mỹ và quân đội Sài Gòn sau này, trong đó có thể chỉ sử dụng pháo mang vác.
Chủ tịch đoàn Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng đã tổ chức lễ trao tặng Huân chương Quân công Giải phóng hạng Nhất - Huân chương cao nhất của lực lượng vũ trang lần đầu tiên được tặng thưởng ở miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, phần thưởng lớn nhất cho Đoàn U.80 pháo binh Miền. Bác Hồ kính yêu với bút danh Chiến sĩ đã viết thơ ca ngợi chiến thắng sân bay Biên Hòa:
“Uy danh lừng lẫy khắp năm châu
Đạn cối tuôn cho Mỹ bể đầu
Thành đồng trống thắng lay lầu trắng
Điện Biên Mỹ chẳng phải chờ lâu”.
Ngay sau khi được báo tin chiến thắng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam gửi điện khen các đơn vị tham dự trận đánh sân bay Biên Hòa: “.. .Chiến thắng sân bay Biên Hòa là một hành động tuyệt vời của quân dân ta, phục thù cho 500 đồng bào ở sông Ông Kèo và liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi vừa bị giặc Mỹ và tay sai giết hại. Chiến thắng sân bay Biên Hòa đã gây phấn khởi to lớn trong quân dân ta, đồng thời gây hoang mang khiếp sợ cho bọn xâm lược và bọn tay sai bán nước.”.
Chiến thắng sân bay Biên Hòa là bước nhảy vọt quan trọng về chất lượng và hiệu suất chiến đấu, là cái mốc đánh dấu sự khởi đầu cho lối đánh hết sức độc đáo của pháo binh: lối đánh độc lập, bí mật thọc sâu đánh hiểm, dùng ít đạn mà hiệu suất cao và rút lui an toàn. Chiến thắng Biên Hòa còn cho những kinh nghiệm quý về tổ chức chỉ huy, xây dựng quyết tâm chiến đấu, hiệp đồng giữa pháo binh và bộ binh, giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân du kích, giữa quân, dân và khẳng định: mọi hệ thống phòng thủ của địch dù kiên cố và canh phòng nghiêm ngặt đến đâu, ta cũng đều có thể vượt qua và giáng cho địch những đòn chí mạng.
Trận đánh vào Tổng kho liên hợp quân sự Long Bình ngày 22/6/1966 và loạt trận trong tháng 10, 11, 12/1966 cũng là thắng lợi lớn của quân dân trong tỉnh.
Vào lúc 2 giờ sáng 22/6/1966 các chiến sĩ Đại đội 2, Đặc công U1 do đồng chí Nguyễn Tấn Vàng, đồng chí Nguyễn Văn Thái (Tư Già) chỉ huy đã dũng cảm, mưu trí vượt qua mọi chướng ngại phòng thủ của địch, dùng mìn có gắn kíp hẹn giờ đánh vào Tổng kho liên hợp Long Bình, phá hủy 40 ngàn quả đạn pháo 155 ly chưa kịp đem đi gây tội ác của Mỹ.
Trận đánh đầu tiên vào kho Long Bình thắng lợi, hủy diệt một lượng đạn pháo lớn của địch đã hỗ trợ đắc lực và kết hợp cùng các chiến trường đánh bồi cuộc phản công chiến lược mùa khô lần thứ 1 của đế quốc Mỹ. Thắng lợi này đã tác động rất lớn đối với phong trào cách mạng ở Biên Hòa và Sài Gòn, có tác dụng hỗ trợ và cổ vũ tinh thần đánh Mỹ của quân và dân ta trên các chiến trường.
Cũng trong năm này, Đặc công Đoàn 10 đặc công Rừng Sác đánh chìm tàu Victory trên sông Lòng Tàu ngày 23/8/1966. Trên địa bàn Rừng Sác, Biên Hòa, Đoàn 10 đặc công với sở trường đánh sông nước bố trí các trận địa pháo DK75, súng máy 12,7mm và trận địa thủy lôi, thực hiện ý định “Liên tục tấn công 7 ngày trên sông Lòng Tàu”. Ngày 23/8/1966, bằng thủy lôi K5 - một loại thủy lôi sừng chạm của Liên Xô - đơn vị đã đánh chìm chiếc tàu hậu cần Baton Rouge Victory 10 ngàn tấn của Mỹ. Trên tàu gồm có 45 thủy thủ, 100 chiếc thiết giáp M113, 3 máy bay phản lực và một khối lượng lương thực đủ cho 1 sư đoàn Mỹ sử dụng trong 1 tháng.
Chiến công này mở màn cho hàng loạt trận đánh thắng lợi sau này của Đoàn 10 xuất phát từ địa bàn Rừng Sác - Nhơn Trạch, cổ vũ cả nước khí thế quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; thể hiện ý chí quyết tâm đó là không chỉ tiến công địch trên Lòng Tàu mà còn đánh vào các quân cảng, kho tàng, căn cứ quân sự Mỹ; một trận “đánh bồi” cuộc phản công mùa khô thứ nhất của Mỹ, đồng thời đánh vào “dạ dày” của chúng trong khi chuẩn bị cuộc phản công mùa khô thứ 2.
Tiếp theo đó là trận đánh của Trung đoàn đặc công 113, kết hợp nội tuyến tấn công kho Long Bình đêm 13/8/1972 vào sân bay Biên Hòa.
Nhờ Thị ủy Biên Hòa giúp đỡ, cơ sở nội tuyến trong sân bay Biên Hòa đã cung cấp tin và sơ đồ sân bay cho Đoàn 113 để lên sa bàn, chuẩn bị phương án tác chiến. Đêm 1/8/1972, Tiểu đoàn 14 pháo đặc công đã bắn ĐKZ vào sân bay Biên Hòa, phá hỏng 74 máy bay các loại, phá hủy 13 xe quân sự, 2 dàn ra-đa và nhiều thiết bị chiến tranh khác.
Trước đó, đồng chí Nguyễn Văn Thái (Tư Già), Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 2 đặc công U1 Biên Hòa, cùng đồng đội đã nghiên cứu cao điểm 53 trong tổng kho Long Bình. Các đồng chí đã tìm ra một con đường bí mật có thể đột nhập vào kho một cách an toàn, từ đó lên kế hoạch đánh kho Long Bình được đơn vị chuyển giao cho Đoàn 113 khi đoàn được thành lập. Cao điểm 53 rộng 1,5km, dài 2,5km gồm 18 dãy với 200 gian chia thành ba khu kho, mỗi khu có sáu dãy cách nhau 100 mét, nhà nọ cách nhà kia 60 mét, các kho bom, đạn có cửa thép dày 10 mm, có khóa sắt điều khiển bằng điện. Phương án tác chiến là đặc công dùng cưa cắt khóa, đặt mìn có kíp nổ hẹn giờ vào kho.
Đêm 13/8/1972, Đoàn 113 tổ chức 57 cán bộ, chiến sĩ chia làm 2 mũi đột nhập vào khu kho 53. Đêm đó đúng kỳ hạn địch mở cửa các kho để xả hơi, nên cửa kho không khóa, một cơ hội thuận lợi cho đặc công nhanh chóng hoàn thành nhiệm vụ. 108 khối thuốc nổ hẹn giờ được các chiến sĩ đặt vào các kho (cách 1 kho đặt 1 trái). 4 giờ ngày 14/8/1972, toàn bộ khu kho cao điểm 53 bị nổ tung 130 dãy kho với 150.000 tấn bom, đạn bị phá hủy, nhà lính bị sập hoàn toàn.
Sau trận đánh trên, Mỹ bắt đầu bàn giao sân bay Biên Hòa cho Sư đoàn 6 không quân quân đội Sài Gòn để chuẩn bị rút về nước. Sân bay Biên Hòa tiếp nhận thêm nhiều loại máy bay mới và tổ chức các lớp huấn luyện kỹ thuật cho sĩ quan không quân Sài Gòn để tiếp nhận bàn giao của Mỹ.
Đại úy Nguyễn Văn Thôn, sĩ quan quân khí của không quân Sài Gòn từ miền Trung về tập huấn kỹ thuật tại sân bay Biên Hòa. Anh là cơ sở nội tuyến của Ban Binh vận Trung ương Cục miền Nam với mật danh H16. Được Ban Binh vận Miền bàn giao, Thị ủy, Thị đội Biên Hòa đặt kế hoạch dùng nội tuyến kết hợp với lực lượng vũ trang bên ngoài theo phương châm bí mật và bảo vệ an toàn cho cơ sở bên trong.
Binh công xưởng thị đội Biên Hòa đã cưa bom, lấy thuốc chế tạo thành kíp nổ hẹn giờ, dùng cơ sở bí mật trong sân bay chuyển vào cho H16 để gắn vào quả bom dưới cánh máy bay trong khu kho của sân bay. Kế hoạch khẩn trương hoàn thành thật chính xác.
Khoảng 9 giờ ngày 10/9/1972, quả bom phát nổ. Cùng lúc từ dốc Ông Hoàng, Tiểu đoàn 14 pháo đặc công (Đoàn 113) bắn pháo vào sân bay để đánh lạc hướng địch. Sân bay Biên Hòa ngập trong khói lửa. 175 máy bay A37, C130 bị nổ tung, nhiều sĩ quan, nhân viên kỹ thuật của địch bị chết. Sân bay Biên Hòa bị tê liệt suốt 7 ngày liền.
Trong 2 ngày 11 và 12/9/1972, các hãng thông tấn phương Tây AP, AFP thừa nhận: “Đối phương (tức quân giải phóng) đã gây thiệt hại ghê gớm nhất. Trận pháo kích vào sân bay Biên Hòa có giá trị ngang với một trận tập kích bằng máy bay chiến lược”.
Trong thực hiện nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ năm 1975 đến nay), cùng với các ban, ngành, đoàn thể trong hệ thống chính trị của địa phương; Đảng bộ, Lực lượng vũ trang tỉnh luôn chú trọng quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, các nghị quyết, chỉ thị của Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng, Quân khu 7, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, vận dụng linh hoạt, sáng tạo đường lối quân sự, đường lối ngoại giao, thống nhất ý chí và hành động hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, cụ thể như nhiệm vụ truy quét tàn quân địch, triệt phá tổ chức Fulro và tiêu diệt các nhen nhóm phản động, bảo vệ thành quả cách mạng, góp phần xây dựng cuộc sống mới.
Sau ngày giải phóng, phía chế độ cũ ra trình diện 94.307 người trong đó có khoảng 4 ngàn sĩ quan cấp úy, tá và tướng. Còn lại 86.749 đối tượng chiếm khoảng 45% chưa ra trình diện, chủ yếu là những sĩ quan ác ôn có nhiều nợ máu với nhân dân, các sắc lính nguy hiểm, cảnh sát đặc biệt. Các thế lực chống phá cách mạng lợi dụng vùng tôn giáo phức tạp để dễ ẩn náu, trọng điểm là khu vực Hố Nai, Dầu Giây, Kiệm Tân, Phương Lâm... Các khu rừng rậm ở Định Quán, Xuyên Mộc, Gia Ray. cũng là những địa bàn tốt để những đối tượng này co cụm xây dựng căn cứ, tổ chức lực lượng để chống phá cách mạng. Bước sang năm 1977, sau nhiều nỗ lực truy quét tình hình an ninh, chính trị, kinh tế, xã hội trên địa bàn tỉnh cơ bản ổn định. Lúc này tổ chức phản động nổi lên 3 lực lượng chính, là: lực lượng Fulro gồm vài chục sĩ quan và binh lính chế độ cũ, bị đánh dạt từ Lâm Đồng xuống Đồng Nai; lực lượng tàn quân do tên Lý Phá Sáng cầm đầu; lực lượng tàn quân do tên Vinh Sơn cầm đầu.
Cả 3 lực lượng phản động nói trên đều nằm trên địa bàn Định Quán, Tân Phú, Long Khánh (phía Đông và Tây lộ 20). Riêng huyện trọng điểm Tân Phú có 15 toán vũ trang khoảng 310 tên. Đầu năm 1977, lực lượng Fulro bị lực lượng vũ trang Lâm Đồng truy quét mạnh đã dạt xuống Đồng Nai, hoạt động chủ yếu ở địa bàn Tân Phú, nhất là các xã Phú Túc, Phú Hòa, Phú Lâm (nay thuộc huyện Định Quán). Từ cuối năm 1976 các đối tượng phản động này đã hình thành Mặt trận giải phóng Fulro, thậm chí vẽ cả mẫu cờ Mặt trận. Bị lực lượng của ta truy quét gay gắt, đến cuối thập niên 80 những toán tàn quân địch ẩn náu trong rừng kể cả lực lượng Fulro đều bị ta phá rã.
Ngoài việc phải duy trì một lực lượng lớn quân thường trực, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật làm nghĩa vụ quốc tế Campuchia, ta đã phối hợp chặt chẽ giữa công an với các ngành, giữa cấp tỉnh, huyện, xã với Quân khu và Bộ Quốc phòng để đánh địch rất hiệu quả. Cụ thể đã phá tan hàng chục toán tàn quân địch trong rừng, diệt và bắt hàng trăm tên; phá tan 30 nhen nhóm, tổ chức phản động của địch. Đây là chiến công lớn đánh tan ý đồ gây dựng lực lượng của địch thời kỳ quan trọng nhất 1976-1985, làm cho chúng không thể thực hiện được âm mưu toan tính phá hoại trước mắt và lâu dài, góp phần to lớn trong nhiệm vụ giữ gìn trật tự an ninh, an toàn xã hội. Ta vượt qua những khó khăn gay gắt về mọi mặt của xã hội những năm cuối thập niên 80 để cùng cả nước bước vào thời kỳ mới, thời kỳ đổi mới toàn diện trên phạm vi cả nước.
Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kết thúc được 2 năm, miền Nam nói chung và Đồng Nai nói riêng đang phải khắc phục hậu quả chiến tranh, tình hình kinh tế, xã hội chưa ổn định thì ở Campuchia bọn phản động Pol Pot - leng Sary tiếp tục gây ra chiến tranh ở biên giới Tây Nam (Việt Nam - Campuchia).
Thực hiện sự chỉ đạo của Trung ương, ngày 5/1/1978, Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Nai được giao 2 nhiệm vụ chính: Một là, tổ chức một Tiểu đoàn bộ binh trang bị đầy đủ vũ khí, có khả năng chiến đấu cao, chi viện cho tỉnh Sông Bé (nay là tỉnh Bình Dương và Bình Phước) trực tiếp làm nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ biên giới. Hai là, tổ chức một lực lượng bao gồm cả bộ đội và thanh niên xung phong cùng các phương tiện, vật chất sang xây dựng tuyến phòng thủ ở khu vực Bù Đốp tỉnh Sông Bé.
Từ năm 1978-1985, quân tình nguyện Việt Nam nói chung, Đồng Nai nói riêng liên tục phối hợp với lực lượng vũ trang cách mạng Campuchia tổ chức hàng trăm đợt truy quét, đánh phá các căn cứ của địch ở rừng sâu. Đồng thời, phát động quần chúng phát hoang cải tạo địa hình, ngăn chặn không cho địch đưa lực lượng về bám gần dân. Tháng 8/1985, tỉnh Đồng Nai có liệt sĩ Bùi Văn Bình (sinh năm 1955 tại thành phố Biên Hòa) và đồng chí Nguyễn Văn Bình (sinh năm 1959, tại Vĩnh An) được Đảng và Nhà nước tuyên dương, phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vì có nhiều thành tích tổ chức, xây dựng lực lượng và trực tiếp chỉ huy chiến đấu diệt nhiều sinh lực địch trong nhiệm vụ truy quét các lực lượng phản động, giúp bạn giữ vững chính quyền, từng bước ổn định tình hình mọi mặt...
Đảng bộ chính quyền và nhân dân tỉnh Đồng Nai đã có sự giúp đỡ chí tình, vô tư, kịp thời đối với nước bạn Campuchia của trên các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội. Ngoài sự giúp đỡ mọi mặt cả tinh thần, vật chất cho bạn, chỉ tính riêng về quân sự, Đồng Nai đã lần lượt cử sang Campuchia 4 Tiểu đoàn, 5 Đại đội cấp huyện với quân số trên 3 ngàn người (không tính các lực lượng cán bộ, chiến sĩ bổ sung lẻ). Trong 10 năm sát cánh chiến đấu công tác cùng với các đơn vị tình nguyện Quân khu 7 và lực lượng vũ trang nhân dân tỉnh bạn, quân tình nguyện tỉnh Đồng Nai đã vượt qua mọi khó khăn, gian khổ hy sinh, đã cùng bạn chiến đấu hàng trăm trận, loại khỏi vòng chiến đấu 13.828 tên địch, thu 1.574 súng các loại. Đồng thời, còn triển khai trên 10 ngàn ngày công giúp nhân dân bạn sản xuất, chống úng, hạn, làm đường vào các phum, sóc, sửa sang nhà cửa, trường học, bệnh viện ở nhiều nơi.
Tỉnh Đồng Nai còn huy động 12 đợt với 10.845 lượt người sang giúp Campuchia xây dựng tuyến phòng thủ biên giới phía Tây. Trong quá trình thực hiện các nhiệm vụ cao đẹp ấy đã có 446 cán bộ, chiến sĩ hy sinh, 891 đồng chí bị thương trên đất nước Campuchia. Với những thành tích to lớn trong công tác giúp bạn, quân tình nguyện Đồng Nai đã được Nhà nước Việt Nam và Campuchia tặng nhiều phần thưởng cao quý.
Trong thực hiện vai trò quản lý nhà nước về quốc phòng - an ninh và xây dựng lực lượng vũ trang địa phương, Đồng Nai đã tập trung quán triệt và thực hiện tốt các Nghị quyết, Chỉ thị Đại hội Đảng các cấp, nhất là Nghị quyết Trung ương 8 (khóa IX), Nghị quyết số 28-NQ/TW của BCH Trung ương Đảng (khóa XI) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới; chủ động tham mưu cho cấp ủy, chính quyền lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện thắng lợi nhiệm vụ quân sự quốc phòng địa phương.
Thường xuyên chăm lo xây dựng tiềm lực quốc phòng toàn dân, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, huyện vững chắc; tăng cường quản lý nhà nước về quốc phòng; đồng thời, tăng cường bồi dưỡng kiến thức quốc phòng an ninh cho các đối tượng; giáo dục quốc phòng an ninh cho nhân dân, nhất là thế hệ trẻ; xây dựng lòng tự hào, tự tôn dân tộc, quân đội, địa phương...
Chăm lo xây dựng và nâng cao chất lượng tổng hợp, nhất là chất lượng chính trị của lực lượng vũ trang tỉnh. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh có bản lĩnh chính trị vững vàng, trung thành tuyệt đối với Đảng, Tổ quốc, nhân dân, sự nghiệp đổi mới đất nước và tỉnh nhà. Có nhiều giải pháp đột phá nâng cao chất lượng huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu; phối hợp với các lực lượng trong hệ thống chính trị xử lý tốt các tình huống phức tạp; góp phần giữ vững ổn định chính trị, an ninh trật tự trên địa bàn.
Thực hiện tốt chức năng đội quân công tác; làm tốt công tác dân vận; thực hiện có hiệu quả phong trào thi đua “lực lượng vũ trang chung sức xây dựng nông thôn mới”, phong trào hành trình “Quân đội chung tay vì sức khỏe cộng đồng”, giúp dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng cơ sở chính trị địa phương, nhằm củng cố vững chắc quan hệ đoàn kết quân dân, giữ vững phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” trong lòng nhân dân.
Tiếp tục thực hiện chặt chẽ hiệu quả các Nghị quyết của Đảng về công tác xây dựng Đảng; nhất là Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII, Cuộc vận động và Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay và quan điểm, đường lối, chủ trương, biện pháp xây dựng Đảng, theo tinh thần Nghị quyết Đại hội XII của Đảng; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; gắn với thực hiện Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh việc Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; thực hiện có hiệu quả Cuộc vận động Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”, xây dựng Đảng bộ quân sự tỉnh trong sạch vững mạnh, lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh toàn diện, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao.
Với những thành tích và chiến công trong xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, Lực lượng vũ trang Đồng Nai vinh dự được Đảng, Nhà nước tặng thưởng :
Về tập thể: 2 Huân chương Sao vàng (nhân dân và Lực lượng vũ trang Bà Rịa - Long Khánh năm 1968, nhân dân và Lực lượng vũ trang Đồng Nai năm 2000), 1 Huân chương Hồ Chí Minh, 1 Huân chương Quân công hạng Nhất, 13 Huân chương Thành đồng Tổ quốc, 26 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, Nhì, Ba; 3 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc (1 hạng Nhất, 2 hạng Ba); 65 đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân.
Về cá nhân: 8 Huân chương Độc lập, 149 Huân chương Quân công (các hạng), 5.243 Huân chương Quân kỳ quyết thắng, 4.491 Huân chương Chiến công (các hạng), 36 Huân chương Chiến công Giải phóng, 18.199 Huân chương Chiến sĩ giải phóng, 258 Huân, Huy chương Chiến thắng, 6.706 Huân chương Chiến sĩ vẻ vang (các hạng), 1.662 Huy chương Chiến sĩ Giải phóng (các hạng), 1.670 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc, 1.050 Huân chương Hữu nghị, 1.035 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 29 Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân Đồng Nai được Chủ tịch Nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân ngày 28/4/2000



