Anh hùng Lực lượng vũ trang

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước Khánh

Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước Khánh

Đồng Nai02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Phước Khánh là một xã thuộc vùng Rừng Sác, địa bàn cuối cùng phía Tây Nam của huyện Nhơn Trạch, như là một hòn đảo giữa bốn bề sông nước. Phía Đông xã Phước Khánh giáp rạch Ông Kèo, phía Tây giáp Thành phố Hồ Chí Minh, phía Bắc giáp bưng ruộng xã Phú Đông, phía Nam giáp sông Lòng Tàu, Cần Giờ. Diện tích tự nhiên của xã là 3.680 hécta, trong đó diện tích cấy lúa là 2.124 hécta còn lại là vùng bưng, dừa nước, sình lầy, ngập mặn quanh năm, ẩm thấp. Dân số trong thời chống Pháp là gần 2.300 người, thời kỳ chống Mỹ là 867 hộ, với 5.759 người.

Người dân xã Phước Khánh theo 3 tôn giáo, có 1 nhà thờ Thiên Chúa với 280 hộ theo đạo, với 1.157 giáo dân, 1 thánh thất Cao Đài với 99 hộ theo đạo có 155 tín đồ, có 1 chùa với 50 Phật tử quy y, còn lại là hình thức tín ngưỡng dân gian như: đình, miếu, thờ cúng ông bà. 85% người dân làm nông nghiệp; thương nghiệp, buôn bán nhỏ, thuê mướn chiếm 15%.

Phước Khánh kênh rạch chằng chịt nhưng nguồn nước ngọt không có, người dân phải đi 8 đến 10km qua xã Vĩnh Thanh, Đại Phước mới chở được nước về. Trong giai đoạn chống Pháp và Mỹ, Phước Khánh cách kho xăng Nhà Bè 2km, cách tổng kho Thành Tuy Hạ 8km và Thành phố Hồ Chí Minh 8km.

Trong hệ thống sông ngòi, Lòng Tàu là con sông lớn nhất cắt rừng sác thành 2 khu Đông và Tây nối sông Nhà Bè ra tận biển Đông. Chiều rộng và độ sâu của sông Lòng Tàu rất thuận lợi cho tàu lớn đi lại. Vì thế từ lâu sông Lòng Tàu đã trở thành đường thủy quan trọng từ biển vào Sài Gòn của Pháp và Mỹ.

Đặc khu Rừng Sác là yết hầu của thủ đô Sài Gòn, nếu địch chủ động và khống chế được thủy lộ quốc tế Lòng Tàu thì đương nhiên tiềm lực chiến đấu của ta trên cả 3 bình diện: chính trị, quân sự, kinh tế sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Bởi vậy, Mỹ đã xây thêm 3 đồn trong xã, có 2 trung đội nghĩa quân B62, B63 chốt giữ. Phía Nam căn cứ hải quân, đặc khu Rừng Sác, có sân bay lên thẳng, 1 trận địa pháo 6 khẩu, khu vực yếu điểm của tổng kho xăng dầu bố trí một đại dội. Dọc sông Lòng Tàu có 1 đại đội 908 tại khu rừng sác. Nhà Bè tăng cường đưa sang tiểu đoàn biệt động quân số 6, lính sư đoàn 18, Biệt khu Thủ đô và Đại đội viễn thám thường xuyên thay nhau ruồng bố, càn quét...

Do vị trí chiến lược quan trọng, tháng 4/1966 Bộ Chỉ huy Miền quyết định thành lập Đặc khu Rừng Sác là một khu quân sự đặc biệt rộng 710km2. Đây là khu vực tập hợp 10 xã của nhiều tỉnh, trong đó có 2 xã Phú Hữu và Phước Khánh của huyện Nhơn Trạch.

Lực lượng đứng chân của ta trong kháng chiến chống Pháp có trung đoàn 300, bộ đội địa phương Cần Giờ, Trung đoàn 307. Từ năm 1966 đến 1975, có Bộ Chỉ huy nhẹ, đại đội 5, 1, 2, 3 của đoàn 10 đặc công Rừng Sác.

Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, hơn 90% nhân dân Phước Khánh lam lũ với đồng ruộng, than củi, nghèo khó nhưng tâm hồn phóng khoáng, tinh thần giàu lòng yêu nước. Nơi đây có phong trào yêu nước sớm nhất tỉnh với danh nghĩa là Thiên Địa Hội vào năm 1908 do cụ Nguyễn Xuân Sang phụ trách. Từ những năm 1940, có nhiều cán bộ cách mạng từ Sài Gòn chạy về Phước Khánh tránh sự khủng bố của thực dân Pháp, được đồng bào giúp đỡ, che chở. Lực lượng Thanh niên Tiền Phong được xây dựng năm 1945 bởi thủ lĩnh Đọt (đồng chí Thanh Ba, nay là Thiếu tướng).

Ngày 25/8/1945, mặc dù ở khá xa, biệt lập so với các xã khác trong huyện nhưng được tin Việt Minh cướp chính quyền thì ở xã Phước Khánh cũng tổ chức cướp chính quyền thắng lợi. Chính quyền cách mạng được thành lập, đủ các ban ngành có từ 5 đến 7 người.

Cuối năm 1946, đồng chí Lâm Văn Tám người xã Phước Khánh được kết nạp vào Đảng. Đến tháng 10/1948, Chi bộ xã được thành lập gồm 4 đồng chí. Năm 1950 kết nạp 34 đồng chí đưa tổng số đảng viên toàn xã lên 38 đồng chí (có 33 chính thức, 5 dự bị).

Từ đầu năm 1946, Hội Mẹ chiến sĩ xã Phước Khánh tổ chức xây dựng phong trào Hủ gạo nuôi quân, có 145 gia đình hưởng ứng sôi nổi. Chỉ tính từ năm 1947-1951 xã đã góp được 36 ngàn lít gạo. Phong trào đóng thuế nông nghiệp và tự nguyện nuôi quân tại nhà cũng rất sôi nổi. Từ năm 1946-1951, trung bình hàng năm đồng bào đóng từ 10-20 tấn lúa về cấp trên và hàng tấn gạo nuôi bộ đội tại xã.

Hơn 100 gia đình đã đóng góp nhiều lư nhang, chân đèn và đồ dùng quý bằng đồng được cất giữ lâu đời trong tuần lễ vàng, tuần lễ bạc. Sau 1 tuần, 8 ngàn kg đồng được chuyển cho công binh xưởng đúc vũ khí.

Hàng tháng, các mẹ, các chị đều lo gạo, tiền, thuốc men đi thăm bộ đội và thương binh. Mỗi lần đi, đoàn có từ 10-40 người. Có lần gặp địch, các chị phải lội sình, vác ghe, đồ đạc đi cả 4-5km mới tới được. Tuy có trở ngại nhưng các chuyến thăm anh em vẫn thường xuyên được tổ chức, ngoài tình yêu thương chăm sóc, đùm bọc dành cho chiến sĩ, thương binh, người dân Phước Khánh còn rất hào hiệp với các địa phương khác. Đầu năm 1946, đồng bào ở Xuân Lộc bị đói, Phước Khánh đã cử đoàn cán bộ lên thăm hỏi, chia sẻ, đón 25 hộ 70 người về xã để chăm lo, giúp đỡ tạo điều kiện cho họ sinh sống. Khi bão lụt năm Thìn 1952 hoành hành, địch lại tăng cường phong tỏa, chặn hầu hết các ngã đường sông, đường bộ không thể qua lại được. 36 cán bộ xã và huy động hơn 50 người dân đào một con mương bí mật xuyên qua rừng Chà Là cắt sông Sở Dừa dài hơn 2km trong suốt 1 tháng trời để đưa 23 ngàn giạ lúa về chiến khu Phước An. Người dân trong xã cũng tham gia mua công trái phiếu ủng hộ Chính phủ 1.250.000 đồng.

Trong phong trào Tiêu thổ kháng chiến, nhân dân xã Phước Khánh đã tự phá 150 căn nhà, có 50 căn nhà kiên cố. Đồng bào giáo dân cũng kiến nghị chính quyền xin tự triệt hạ hệ thống phụ của nhà thờ. Nhờ vậy mà quân Pháp khi chiếm đóng ở đây xây dựng đồn bót chậm hơn so với các xã lân cận.

Toàn xã có 260 thanh niên tòng quân (19 nữ, 30 là thanh niên công giáo). Hội Mẹ chiến sĩ, Hội Phụ nữ phối hợp với các đoàn thể của xã 5 lần tổ chức gần 1 ngàn lượt người lên Thành Tuy Hạ yêu cầu chống bắn pháo và càn quét bừa bãi; từ năm 1951-1954, vận động 20 tề, xã và hàng trăm binh sĩ bỏ ngũ về sinh sống với gia đình.

Lực lượng du kích xã được thành lập sau ngày cướp chính quyền, 1 tiểu đội gồm 12 đồng chí trang bị 1 súng phun lửa, 1 súng 2 nòng, còn lại là mác, mã tấu. gậy tầm vông. Đến năm 1948, đội du kích được trang bị đủ súng, làm nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền, trấn áp bọn tạo phản, giữ địa bàn, chiến đấu, phục vụ chiến đấu, đưa rước cán bộ... Trong thời kỳ chống Pháp quân, dân Phước Khánh đã tổ chức đánh gần 200 trận, diệt 167 tên, thu hơn 100 súng, hàng trăm lựu đạn.

Ngày 20/3/1947, 1 đại đội Pháp và lính Cao Đài từ Bình Khánh càn sang, 9 du kích phối hợp với lực lượng chi đội 3 chặn đánh. Khi ghe địch vừa tới, ta nổ súng và ném lựu đạn, bắn chìm 1 thuyền, diệt 16 tên, thu 10 súng, bẻ gãy cuộc càn.

Tháng 3/1948, địch tổ chức càn lớn vào Phước Khánh. Du kích và lực lượng của trên đã chia làm nhiều tổ, chốt, chặn chia cắt địch ra nhiều hướng tiêu diệt. Bị đánh bất ngờ địch tháo chạy, bỏ lại 6 xác chết, ta thu 5 súng, bảo vệ được 5 ngàn giạ lúa cho huyện.

Cuối năm 1948 du kích Phước Khánh phối hợp với du kích Phú Hữu bao vây bức hàng 2 đồn địch ở rạch Miễu và Miễng Sành (xã Phú Hữu) trong suốt 2 tháng liền, buộc địch phải rút khỏi đồn.

Sau hiệp định Genève năm 1954, cán bộ, đảng viên trong xã đi tập kết, chỉ còn lại 1 đồng chí bám giữ xây dựng phong trào. Đến tháng 12/1956, 10 đồng chí trong số tù chính trị phá khám Tân Hiệp ở Biên Hòa về Phước Khánh được đồng bào che chở nuôi giấu. Đây là những cán bộ kiên trung, là nòng cốt cho phong trào cách mạng ở xã. Năm 1960, Chi bộ Đảng xã Phước Khánh được thành lập có 6 đảng viên. Năm 1961 xã phát triển thêm 1 Chi bộ B (hoạt động hợp pháp) gồm 4 đồng chí. Trong thời kỳ ác liệt nhất (1966-1972) có lúc chi bộ chỉ còn 3 đồng chí, nhưng vẫn không dời địa bàn.

Bằng cách đánh nhỏ, lẻ, chủ yếu là diệt ác, thám báo chỉ điểm, gài trái, mìn du kích Phước Khánh để tạo thế cho các đơn vị thuộc đoàn 10 đặc công Rừng Sác đứng chân làm nhiệm vụ trọng yếu. Quân và dân Phước Khánh đã đánh 508 trận, diệt 426 tên có 34 lính Mỹ, 24 ác ôn) loại 65 tên, bắt sống 2 tiểu đội, gọi hàng 134 tên, rã hơn 100 tên, thu 412 súng, 3 máy thông tin PRC10, 1 máy PRC25, hàng trăm mìn trái, hàng ngàn đạn các loại, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, phá và bắn chìm 26 tàu xuồng quân sự (do đoàn 10 đánh).

Tháng 4/1963, du kích đã cùng với 40 thanh niên trong xã chỉ trong 1 đêm đã phá 3 cầu, cắt đứt đường giao thông trên bộ, hỗ trợ cho đồng bào trong 3 tháng liên tục 9 lần phá ấp chiến lược, phá banh hơn 3km rào kẽm gai của 2 ấp chiến lược, buộc địch phải bỏ xây dựng.

Tháng 5/1964, lực lượng du kích chặn đánh một trung đội địch đi càn, diệt 3 tên, thu 4 súng, bẻ gãy cuộc càn.

Ngày 27/2/1966, địch từ Nhà Bè càn qua. Du kích Phước Khánh do xã đội trưởng Hòa chỉ huy, ém quân ở khu vực trại vịt nhà bác Tám, để cho toán địch vô bắt vịt và mất cảnh giác, ta nổ súng, cả tiểu đội địch bị diệt, ta thu 4 súng ga-răng, 2 súng cac-bin, 24 lựu đạn, từ đó đón đánh bọn càn quét vào ấp 1, 2. Được tin 8 du kích Phước Khánh chặn đánh cả đại đội địch, Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Thông ra tận nơi tổ chức rút kinh nghiệm trận đánh, quyết định tặng lại 2 khẩu súng cac-bin mà du kích đã thu được.

Tháng 10/1966, 2 du kích dùng trái phục kích bọn lính Mỹ đi càn, diệt 6 tên Mỹ.

Ngày 21/7/1967, từ khu Nhà Bè địch càn sang Phước Khánh. Chúng đổ quân bằng trực thăng, du kích xã cùng với Đoàn 10 chia làm 4 tổ chiến đấu. Dựa vào ô, giao thông hào, lực lượng đã chiến đấu suốt từ 9 giờ đến 16 giờ cùng ngày, diệt 38 tên (có 19 lính Mỹ), bắn cháy 2 máy bay trực thăng, thu 2 súng M16, 1 súng col 45 ly.

Tháng 8/1967, du kích phục vụ cho Đoàn 10 đánh chìm 1 tàu lớn chở vũ khí trên sông Lòng Tàu giữa ban ngày.

Cũng trong tháng này, du kích chuyển 11 khẩu ĐKB từ sát sông Nhà Bè về ấp Miễng Sành, bố trí canh gác, giữ bí mật cho trận đánh. Trận đánh này, ta bắn trúng kho xăng Nhà Bè cháy suốt 16 tiếng đồng hồ.

Tháng 3/1973, 2 tiểu đội địch đột nhập vào căn cứ du kích chỉ còn 5 đồng chí (có 2 nữ) vì anh em đi công tác chưa về. Do phát hiện trước, các đội viên du kích chủ động tấn công, địch rút lui bỏ lại 4 xác chết, ta thu 40 súng.

Về đấu tranh chính trị - binh vận, quân dân xã Phước Khánh lấy phương châm: chính trị binh vận kết hợp với vũ trang, diệt ác, phá kìm, làm lỏng sự kìm kẹp của địch, phải giữ được địa bàn, dân cư, giữ địa bàn cho Đoàn 10 đứng chân. Nội dung đa dạng, phong phú, hình thức thì tế nhị, sâu lắng, không tổ chức theo quy mô lớn với năm, ba trăm người rầm rộ trương cờ, biểu ngữ đi đấu tranh như các xã khác.

Hội Mẹ chiến sĩ, Hội Phụ nữ xã thường xuyên thăm hỏi, viếng, giúp đỡ các gia đình binh sĩ, kể cả sĩ quan chế độ Sài Gòn khi có hữu sự. Hàng ngàn bức thư thăm hỏi của người dân, dòng tộc, xóm làng gởi cho binh sĩ, sĩ quan, cả với nhà chức trách để thăm hỏi, khích lệ, kiến nghị yêu sách, nhằm nới lỏng sự kìm kẹp, ruồng bố của địch.

24 tên ác ôn bị diệt, ấp chiến lược 9 lần bị phá, gọi hàng 134 tên, hơn 100 tên rã ngũ, hơn 200 thanh niên trốn lính là kết quả của công tác chính trị, kết hợp với binh vận. Ngoài ra, còn có một số thành tích điển hình trong công tác chính trị, binh vận kết hợp ở Phước Khánh như:

Tháng 3/1955, có một cuộc di dân lớn về Long Thành, cư dân đã lên đến 7 ngàn người ở thị trấn Long Thành và Đại Phước, đông nhất là Phước Khánh 4 ngàn người. Việc di dân kèm theo những “chính sách” gọi là ưu đãi của chính quyền Ngô Đình Diệm để lung lạc gây chia rẽ giữa dân di cư và dân địa phương như: cấp đất, lập trại, cấp giống, vật nuôi, đồ dùng, vật dụng... Nắm được ý đồ của địch, ta vận động giáo dân ở địa phương làm nòng cốt đấu tranh đòi quyền lợi như: nhà ở, nước uống... Cuối năm 1955, địch phải đưa số dân này về xã Vĩnh Thanh, là địa phương lúc đó còn thưa thớt người.

Trung thu năm 1955, Ngô Đình Diệm cũng bày trò gửi thơ cho thiếu nhi thì Phước Khánh xuất hiện bài vè:

Thiếu nhi là cháu Bác Hồ

Ai thèm làm cháu thằng Ngô bao giờ.

Rồi câu vè đó cứ râm ran truyền đi, đến tai “Ông” Diệm và từ Trung thu sau “Ông” không viết thư nữa.

Trên cầu Phước Khánh, địch giăng một khẩu hiệu lớn “Diệt cộng là yêu nước” thì sáng hôm sau chữ yêu được thêm dấu sắc, địch tức tối phải tháo xuống.

Quân dân Phước Khánh còn tổ chức cuộc binh biến, lấy đồn Phước Khánh năm 1955 rất ngoạn mục. Đồn Phước Khánh do Trung úy Lạc làm Trưởng đồn, Tư Thức (là con liệt sĩ của 1 gia đình trong chống Pháp) làm Đồn phó. Bà Phan Thị Nho, má của đồng chí Bí thư Huyện ủy Nguyễn Văn Thông quen biết với má của Tư Thức đã dùng kế ly gián, loan tin cho lính trong đồn tin tối mật: Trung úy Lạc đã có danh sách gửi lên trên, phần đông lính trong đồn là Bình Xuyên chui vô để lợi dụng thời cơ nổi dậy, má của Tư Thức là người cầm đầu. Tư Thức kêu Trung úy Lạc sang phòng mình bàn công việc, Lạc không biết qua liền thì bị Tư Thức kết liễu bằng 1 viên đạn và tuyên bố với binh sĩ Trung úy Lạc định tạo phản đã bị trừng trị, anh em ai muốn theo cách mạng thì theo, không thì về nhà làm ăn. Gần 50 binh sĩ ta tuyển được 21 anh em, còn cho về nhà làm ăn, ta thu súng 54 súng. Huyện ủy sau đó điều đồng chí Nguyễn Minh (5 Ninh) đội trưởng đội du kích sang làm phó, thành lập lực lượng giáo phái Bình Xuyên, do Tư Thức là trưởng. Lực lượng này sau tham gia đánh đồn Long Tân, đánh chốt địch ở chợ Đại Phước, trận đánh này Tư Thức hy sinh.

Mô hình Hủ gạo nuôi quân được duy trì đến ngày giải phóng. Từ 145 gia đình đã lên tới 416 gia đình, chỉ trong 15 năm (1960¬1975) nhân dân đã đóng góp được 21.200 lít gạo, 30 ngàn giạ lúa chuyển về huyện và tỉnh. Năm 1963, địch phong tỏa gắt gao đường vận chuyển. Một lần nữa, cán bộ và nhân dân xã lại đào tát một con mương từ rạch Miễu, qua Sở Dừa đến Phú Hữu để chuyển 25 ngàn giạ lúa về trên.

Đối với bộ đội Đoàn 10, từ năm 1966-1975, mỗi ngày đồng bào Phước Khánh đã cung cấp lương thực cho gần 300 cán bộ và chiến sĩ, số lương thực phục vụ đoàn 10, ước tính 22.680kg gạo, nhân dân còn làm tốt thu đảm phụ bằng lúa trong 10 năm được 360 tấn.

Phục vụ chiến dịch Mậu Thân 1968, nhân dân đã đóng góp cho bộ đội và du kích 2 triệu đồng tiền mặt, mua 1,2 triệu đồng lương thực, thực phẩm, thuốc men, ủng hộ 300 con vịt.

Lực lượng thường xuyên của xã có từ 5-12 đồng chí bổ sung cho lực lượng của huyện. Trong chống Mỹ có gần 200 thanh niên được bổ sung về trên, xã thành lập tổ dân, tổ giao liên, tải đạn, lương thực, thực phẩm, đưa đón cán bộ, đơn vị đi làm nhiệm vụ, huy động gần 30 ngàn lượt người đào kênh mương để chuyển lương thực về trên. Xã cũng thành lập tổ thu lượm bom đạn lép. Hằng tháng có ghe của huyện xuống chở, hoặc anh em cắt đường vận chuyển về trên hoặc chuyển cho Đoàn 10 chế tạo thành thủy lôi để đánh tàu. Bom đạn lép mà xã thu lượm được hàng trăm trái, góp một phần không nhỏ trong việc tự tạo trái để đánh giặc.

Một số người dân ở Phước Khánh có đóng góp tiêu biểu cho cách mạng như: Linh mục Nguyễn Văn Hầu (Tự Hiệu), má 6 Nhiều, anh

Nguyễn Văn Ba (Ba chày mổ), anh Nguyễn Văn Ninh, ông Lâm Văn Tám, gia đình ông Phan Văn Long, má út Ràng, gia đình ông Nguyễn Văn Cự, gia đình ông Trần Văn Cảnh, gia đình Chú 7 Độ , chị Ba Cầm (Nhụy) anh Phan Văn Hòa, vợ chồng anh Sô, chị 9 Mi, anh 6 Lô, chị Tới, chị Huệ...

Với địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng. Địch cố giữ, ta quyết đánh, cuộc chiến ở đây diễn ra quyết liệt, từng ngày từng giờ, kể từ năm 1966 khi bộ đội Đoàn 10 về đứng chân trên vùng đất này.

Địch cho rằng không một điểm xuất quân nào khác ngoài Phú Hữu, Phước Khánh, Rạch Lá... Do đó, địch thường xuyên dùng lực lượng đặc khu, liên đoàn biệt động quân số 6, càn quét, chà đi xát lại nhiều lần. Pháo binh thường xuyên bắn cấp tập cả giờ đồng hồ, B52 rải thảm. Bom đạn, pháo, cày xới, đào khoét làm mặt đất biến dạng mà đến nay vẫn chưa san lắp được. Bom phát quang, chất độc hóa học đã hủy diệt hàng trăm hécta lúa, hoa màu, vườn tược, hàng ngàn hécta rừng sác bị tàn phá nặng nề, phá hoại hệ sinh thái của rừng.

Tháng 9/1966, Nha cảnh sát Đô Thành thông báo treo thưởng 10 ngàn đồng cho nhân viên nào bắt được hoặc giết được 1 “Việt cộng”. Ủy ban hỗn hợp Sài Gòn, Trung tá Nguyễn Văn Luận, giám đốc cảnh sát cũng ra thông báo: “đồng bào tự tay hạ sát hoặc chỉ cho cơ quan an ninh bắt được 1 tên Việt cộng thưởng từ 50-100 ngàn đồng”, hoặc “ai tiếp tế cho Việt cộng 1 lít gạo cũng bị tử hình”. về mùa khô, chúng phong tỏa các tuyến đường, triệt nguồn nước ngọt. Đêm đến, trên các sông rạch, tàu, xuồng địch thường xuyên thả để phục kích, thế là chạm súng. Những trận đánh lấy nước ngọt cũng trở nên quyết liệt. Địch càn vào căn cứ, làng xóm chúng đập phá lu, hủ, bồn đựng nước. Giọt nước mùa khô quý như giọt máu. Địch đã gây tổn thất lớn đến cách mạng.

Thế nhưng, quân dân xã Phước Khánh vẫn kiên cường chiến đấu. Trước tiên phải nhắc đến sự hy sinh to lớn của bộ đội Đoàn 10. Đặc biệt là đại đội 5 đơn vị đặc công của Bộ được điều từ miền Bắc vào quân số 130 đồng chí, vượt Trường Sơn đã hy sinh 10 đồng chí, đến Tây Ninh được chia làm 2 đơn vị lấy ký hiệu 5A và 5B là đơn vị đặc công thủy. 5A được chuyển về Vũng Gấm, Nhơn Trạch, 5B về Sài Gòn. “Gia đình” 5A đứng chân trên địa bàn Phước Khánh được nhân dân rất tin yêu, giúp đỡ chở che như chính những đứa con ruột thịt của mình. Đến tháng 4/1971, 5A chỉ còn đủ mâm cơm 6 đồng chí, rồi đến các chiến sĩ C1, C2, C3 của Đoàn 10 cũng bị tổn thất nhiều.

Thiệt hại của nhân dân thì tăng lên gấp bội, hơn 1 ngàn căn nhà bị phá sập hoặc cháy trụi, có nhiều gia đình bị đốt phá nhiều lần. 200 thường dân vô tội bị chúng sát hại, trong đó có 40 phụ nữ và em nhỏ, hơn 6 ngàn giạ lúa bị cướp, bị cháy, trên 200 trâu bò, hàng ngàn gà vịt bị địch bắn chết hoặc cướp mất, hàng ngàn hécta ruộng bị bỏ hoang hóa. Hàng trăm người dân bị địch tình nghi, bắt giữ, giam cầm đánh đập rất dã man, ở đủ các nhà tù, nhiều người trở thành tàn phế, rất thương tâm, như: má con chị 9 Tiến đều bị tù, khi cách mạng giải phóng nhà tù, 2 má con chỉ gặp nhau trong phút chốc rồi chị trút hơi thở cuối cùng khi tuổi đời chưa tròn 20...

Suốt trong 2 cuộc kháng chiến đánh Pháp và Mỹ, lòng dân Phước Khánh luôn hướng theo Đảng và Bác Hồ kính yêu, tin tưởng thắng lợi nên một tấc không đi, bám đất, bám làng, chiến đấu sản xuất.

Về quân sự quân dân xã Phước Khánh đánh trên 700 trận, có 100 trận phối hợp với bộ đội đoàn 10, các đơn vị của trên, diệt 593 tên, có 34 lính Mỹ, 24 ác ôn, thám báo, thu 562 súng các loại, gọi hàng 134 tên, bắt sống 50 tên, loại 65 tên, rã gần 300 tên, bắn cháy 2 máy bay trực thăng, phá và đánh chìm 35 tàu xuồng quân sự, có 1 tàu trọng tải trên 10 ngàn tấn, thu hàng ngàn đạn các loại...

Hũ gạo nuôi quân của người dân trong góp được 57.200 lít, gạo cung cấp cho đoàn 10 được 30.260 lít; lúa đẩm phụ góp 1.650 tấn, lúa tự nguyện đóng góp được 1.720 tấn, mua công trái phiếu được 1.250.000 đồng, góp 8 ngàn kg đồng, huy động trên 30 ngàn lượt ngày công, 3 lần đào mương để tạo đường vận chuyển lương thực vũ khí, đạn dược, đào 300m giao thông hào, đắp 95 ô ụ chiến đấu.

Thanh niên tòng quân là 360, bổ sung cho trên và xây dựng lực lượng xã. Rất nhiều các đồng chí trưởng thành, giữ chức vị cao của Đảng và Nhà nước (1 trung tướng, 1 thiếu tướng, 2 thiếu tá, 3 tỉnh ủy viên).

Toàn xã có 114 gia đình liệt sĩ, 6 gia đình có công, 3 bà mẹ Việt Nam Anh hùng.

Vào năm 1973, quân dân xã Phước Khánh được Tư lệnh Miền tặng Huân chương Giải phóng hạng Ba; xã còn được tặng 36 Huân chương Giải phóng hạng Nhất, 18 Huân chương Giải phóng hạng Nhì, 38 Huân chương Giải phóng hạng Ba; 12 Huân chương Chiến thắng; 39 Huân chương Chiến công; 28 Huân chương Vẻ vang; Đội 5 thuộc Đoàn 10, 3 lần tuyên dương Anh hùng (các năm 1972, 1973, 1975); danh hiệu Thành đồng Quyết thắng (năm 1968 - 1969); 2 liệt sĩ được tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (đồng chí Xê, Dần).

Đặc biệt, năm 2000 nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước Khánh được Nhà nước, Chính phủ phong tặng danh hiệu tập thể Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Nhân dân và Lực lượng vũ trang nhân dân xã Phước Khánh | Câu chuyện thời hoa lửa