NHÂN VẬT LỊCH SỬ: ANH HÙNG LAO ĐỘNG TRẦN ĐẠI NGHĨA
Phạm Quang Lễ sinh ra trong một gia đình nhà giáo nghèo yêu nước tại Vĩnh Long, mồ côi cha từ năm lên 6 tuổi, lớn lên nhờ sự tần tảo nuôi dưỡng của mẹ và chị gái. Sớm nổi bật với tư chất thông minh xuất chúng học giỏi toán, năm 20 tuổi ông thi đỗ thủ khoa hai bằng tú tài Việt và Tây (tú tài Pháp)
I. THÔNG TIN NHÂN VẬT
Họ và tên: Phạm Quang Lễ (tên hoạt động bí danh: Trần Đại Nghĩa).
Năm sinh: 1913 (Sinh ngày 13/09/1913).
Năm mất: 1997 (Mất ngày 09/08/1997).
Quê quán: Làng Chánh Hiệp, huyện Tam Bình (nay là xã Hòa Hiệp, huyện Tam Bình), tỉnh Vĩnh Long.
II. CÂU CHUYỆN LỊCH SỬ
“ÔNG VUA VŨ KHÍ” VÀ HOÀI BÃO KIỆT XUẤT CỦA NGƯỜI TRÍ THỨC YÊU NƯỚC
Phạm Quang Lễ sinh ra trong một gia đình nhà giáo nghèo yêu nước tại Vĩnh Long, mồ côi cha từ năm lên 6 tuổi, lớn lên nhờ sự tần tảo nuôi dưỡng của mẹ và chị gái. Sớm nổi bật với tư chất thông minh xuất chúng học giỏi toán, năm 20 tuổi ông thi đỗ thủ khoa hai bằng tú tài Việt và Tây (tú tài Pháp). Do gia cảnh nghèo khó không có tiền ra Hà Nội học tiếp, ông đi làm thư ký tại Mỹ Tho để giúp mẹ, giúp chị nhưng trong lòng vẫn luôn nung nấu hoài bão lớn học tập để chế tạo vũ khí cứu nước.
Năm 1935, được sự giúp đỡ của nhà báo yêu nước Dương Quang Ngưu, ông vinh dự nhận học bổng du học Pháp. Trong suốt 11 năm học tập vất vả tại Paris, Phạm Quang Lễ đã kiên trì vừa học vừa làm, tốt nghiệp kỹ sư và cử nhân toán học xuất sắc tại cả 5 trường đại học danh tiếng nhất nước Pháp (Bách khoa Paris, Đại học Mỏ, Đại học Điện, Đại học Cầu đường, Đại học Sorbonne). Ông làm việc tại Viện nghiên cứu máy bay Pháp và xưởng chế tạo máy bay, Viện nghiên cứu vũ khí Đức. Trong thời gian này, ông đã bí mật nghiên cứu và ghi chép hơn 30.000 trang tài liệu mật về thuốc nổ và chế tạo vũ khí.
Tháng 5 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Pháp thương thuyết ngoại giao. Cảm mến sâu sắc trước nhân cách vĩ đại của Bác Hồ, Phạm Quang Lễ đã quyết định từ bỏ cuộc sống vinh hoa phú quý, mức lương cao ngất ngưởng tương đương 22 lượng vàng mỗi tháng tại châu Âu để theo Bác trở về nước tham gia kháng chiến dấn thân vào gian khổ. Ngày 5 tháng 12 năm 1946, Bác Hồ cho mời ông đến Bắc Bộ Phủ, trực tiếp giao trọng trách làm Cục trưởng Cục Quân giới và đặt tên mới cho ông là Trần Đại Nghĩa để giữ bí mật.
Kháng chiến toàn quốc bùng nổ ngày 19/12/1946, Trần Đại Nghĩa cùng các cộng sự lên chiến khu Việt Bắc nghiên cứu chế tạo vũ khí trong điều kiện vô cùng thiếu thốn về vật tư thiết bị. Với trí tuệ phi thường và bàn tay khối óc của mình, ông đã lãnh đạo cán bộ quân giới sản xuất thành công súng và đạn chống tăng Bazooka cỡ 60mm dựa theo mẫu của Mỹ chỉ từ hai viên đạn mẫu. Súng Bazooka Việt Nam lần đầu ra trận ngày 5/3/1947 tại chùa Trầm đã bắn cháy ngay 2 xe tăng Pháp, khiến quân địch vô cùng kinh ngạc sửng sốt.
Không dừng lại ở đó, ông tiếp tục nghiên cứu chế tạo thành công súng không giật SKZ - loại vũ khí cực mạnh có thể bắn xuyên thủng các lô cốt bê tông kiên cố của Pháp, mìn phá xe, bom bay... góp phần phá vỡ thế độc quyền vũ khí tối tân của thực dân Pháp trên chiến trường, bảo vệ vững chắc chính quyền cách mạng non trẻ. Năm 1948, ông được phong quân hàm Thiếu tướng trong đợt phong tướng đầu tiên của Quân đội và vinh dự được trao tặng danh hiệu Anh hùng Lao động đầu tiên của Việt Nam năm 1952.
Cảm nhận sâu sắc: Giáo sư, Viện sĩ Trần Đại Nghĩa là tấm gương sáng ngời nhất về lòng yêu nước vô bờ bến và tinh thần sẵn sàng dâng hiến tất cả vì đại nghĩa của người trí thức cách mạng Việt Nam. Quyết định rời bỏ cuộc sống vinh hoa giàu sang phú quý tại châu Âu để trở về núi rừng Việt Bắc gian khổ nếm mật nằm gai kháng chiến thể hiện một nhân cách cao cả, vĩ đại của người trí thức yêu nước. Bằng trí tuệ kiệt xuất phi thường của mình, ông đã đặt những viên gạch vững chắc đầu tiên xây dựng ngành công nghiệp quốc phòng Việt Nam, chế tạo ra những vũ khí kỳ diệu đánh bại kẻ thù xâm lược.
Ý nghĩa giáo dục và liên hệ thực tế: Tại Trường Tiểu học Ngô Quyền, câu chuyện về cuộc đời khoa học oanh liệt của anh hùng Trần Đại Nghĩa là bài học vô giá giáo dục học sinh về tinh thần ham học hỏi, yêu thích khoa học khám phá và ý thức dùng tri thức dựng xây đất nước. Chúng tôi khuyến khích các em học sinh nỗ lực chăm ngoan học giỏi, yêu thích các môn khoa học, toán học, rèn luyện kỹ năng thực hành sáng tạo. Noi gương ông, các em học sinh hiểu rằng tri thức chỉ thực sự có giá trị khi phục vụ lợi ích của dân tộc và cộng đồng, từ đó nỗ lực học tập rèn luyện tốt.


