NHÂN VẬT LỊCH SỬ - ANH HÙNG LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TRỊNH TỐ TÂM
Bài viết về anh hùng lực lượng vũ trang Trịnh Tố Tâm
Sau thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt ở miền Nam, Đế quốc Mỹ ngày càng có những hành động khiều khích đe dọa tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc hậu phương của cách mạng miền Nam. Trực chờ âm mưu và hành động chiến tranh của Đế quốc Mỹ cùng với các tầng lớp nhân dân, thanh niên miền Bắc là lực lượng hăng hái, sục xôi đi đầu, hưởng ứng cuộc đấu tranh chung của cả dân tộc.Trong bối cảnh đó, phong trào Ba Sẵn Sàng đã xuất hiện, trước tiên là từ một số trường đại học trên địa bàn thủ đô Hà Nội, sau đó lan rộng ra toàn quốc. Đầu năm 1964, với tinh thần hướng về miền Nam ruột thịt, Đoàn trường Đại học Sư phạm Hà Nội đã tổ chức cuộc vận động Tam Bất Kỳ với nội dung đi bất kỳ nơi đâu, tổ quốc cần, làm bất kỳ việc gì, tổ quốc giao phó, vượt qua bất kỳ khó khăn, gian khổ nào để hoàn thành nhiệm vụ. Sáng kiến đó đã được đông đảo sinh viên toàn trường hưởng ứng, tạo tiếng vang trong thế hệ trẻ thủ đô, lớp lớp thanh niên đã hăng hái lên đường nhập ngũ, nguyện hiến dâng thanh xuân cho độc lập, tự do của tổ quốc, trong đó có những người còn rất trẻ, lứa tuổi 18 - đôi mươi đã trở thành những tấm gương chiến đấu tiêu biểu, tô đậm thêm truyền thống anh dũng của quê hương, được Đảng, Nhà nước và nhân dân ghi nhận, trao tặng danh hiệu “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”, một danh hiệu vinh dự cao nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam hiện nay vì đã có những thành tích đặc biệt xuất sắc trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Trong đó “Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân” Trịnh Tố Tâm là một trong những người tiên phong.
Trịnh Tố Tâm sinh năm 1945 tại thôn Mỹ Cầu, thuộc huyện Ứng Hòa, tỉnh Hà Đông cũ (nay là TP Hà Nội). Ứng Hòa còn là địa danh góp phần tạo nên bài hát huyền thoại “Chiếc gậy Trường Sơn”, một lời hiệu triệu thanh niên toàn quốc xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước. Bài hát này đã đi vào trang sử hào hùng của dân tộc và là nguồn cảm hứng cho quân dân cả nước trong cuộc chiến giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Ông là Đại tá Quân đội nhân dân Việt Nam, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, nguyên Bí thư Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh và nguyên Trưởng Ban Thanh niên Quân đội. Ông cũng là Tổng biên tập đầu tiên của báo Lao động & Xã hội. Ông được quân Mỹ đặt biệt danh "hùm xám đèo Hải Vân" vì sự tài giỏi, dũng cảm của ông trong việc dùng mìn đánh địch tại đèo Hải Vân. Ông là nỗi khiếp sợ của quân Mỹ, bị truy lùng với giá cao, nhưng vẫn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 27 tuổi.
Sau khi nhập ngũ, ông được biên chế vào đại đội 21 công binh của Trung đoàn Phú Xuân, quân khu Trị Thiên Huế. Đơn vị của ông được giao nhiệm vụ đánh giao thông trên đoạn đường qua đèo Hải Vân, ngăn chặn việc vận chuyển vũ khí, trang bị, chi viện cho lực lượng của địch ở phía bắc đèo Hải Vân và chiến trường Quảng Trị. Trên đèo Hải Vân khi đó, địch thường xuyên càn quét để bảo vệ tuyến giao thông đường sắt và đường bộ. Chúng gần như chặn mọi đường tiếp tế của ta nên mọi sinh hoạt cực kỳ thiếu thốn. Các chiến sĩ của đại đội 21 công binh phải đi từ đỉnh đèo xuống tận khu nước sâu bên bờ vực gùi từng lít nước lên để dùng. Vì vậy nên nhiều khi đánh thắng địch trở về, đơn vị vừa đói vừa khát khô cổ họng nhưng không có nổi một giọt nước để uống.Buổi sáng muốn có nước uống, các chiến sĩ phải ngửa mặt hưng lấy những giọt sương đêm còn vương trên các tàu lá để nhập cho qua cơn khát. Những khó khăn ấy đã không khuất phục được ý chí quyết tâm của những người lính công binh bám trụ trên đèo ngày đó và càng thôi thúc và hồn đụng ý chí quyết tâm vượt qua mọi khó khăn gian khổ để thực hiện lời bác dạy. Không có gì quý hơn độc lập tự do, nên những năm tháng chiến đấu trên chiến trường Trị Thiên anh hùng Trịnh Tổ Tâm đã chỉ huy đơn vị bám đất, bám dân, phát động quân chúng xây dựng cơ sở cách mạng dựa vào nhân dân mà bám trụ kiên cường, chiến đấu hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.
Từ năm 1967-1970, ông chỉ huy đơn vị và tham gia chiến đấu 58 trận, tiêu diệt 1.500 địch, trong đó có 700 lính Mỹ, phá hủy gần 100 xe quân sự cũng như đánh sập hàng chục cầu, cống... nhằm ngăn chặn bước tiến của kẻ thù. Trong những trận chiến đấu đó, cá nhân ông diệt được 270 tên địch (trong đó có 185 lính Mỹ), bắn rơi và phá hủy 3 máy bay, nhiều xe quân sự của địch. Đặc biệt, với tinh thần của người con quê hương anh hùng, anh luôn tìm ra nhiều cách đánh sáng tạo khiến cho kẻ thù bất ngờ - mà đồng đội anh thường gọi là "Trăm trận đánh, trăm cách thắng". Mỗi con số ấy không đơn thuần là chiến công mà là minh chứng hùng hồn cho tài năng quân sự xuất trúng và lòng dũng cảm vô song của người anh hùng trẻ tuổi. 3 năm ấy đã biến Trịnh Tố Tâm từ một chiến sĩ bình thường trở thành huyền thoại sống, nối khiếp đảm của quân thù và niềm tự hào của quân đội ta
Đoạn đường bộ và đường sắt từ Phú Lộc qua Thổ Sơn, Lăng Cô rồi vắt qua đèo Hải Vân là đoạn đường huyết mạch của kẻ thù. Thấy được vị trí hiểm yếu và quan trọng nên anh cùng đồng đội tìm cách đánh phá gây khó khăn và sự tổn thất cho phía địch, Trịnh Tố Tâm cùng các đồng đội đã biến nơi đây thành tử địa, khiến quân thù khiếp sợ.
Năm 1968, trong lần Trịnh Tố Tâm đi trinh sát 3 đêm liền về đến Hải Vân, phát hiện giặc Mỹ đi tuần, gần sáng thường co cụm tại một điểm cao cạnh đường nên ông đã dẫn một tổ lên đặt mìn ở đó, tiêu diệt và làm bị thương 60 tên địch.
Đến đầu năm 1970, khi đã là đại đối phó, tài năng quân sự của ông càng tỏa sáng. Với nhãn quan sắc bén, ông dự đoán chính xác vị trí đổ quân của địch, chỉ huy đơn vị bí mật thiết lập trận địa mìn vào cụm quân Mỹ đổ quân đánh xe cơ giới quy định trên quốc lộ số 1, ông và đồng đội đã nghĩ ra cách đánh liên hoàn, làm rõ thủ đoạn của địch.Khi bị phục kích trên quốc lộ, chúng thường dùng máy bay đổ quân để chặn đường rút của ta. Trước khi tổ chiến đấu của ông về vị trí điểm hỏa mìn đánh cơ giới trên quốc lộ số 1, ông đã cùng hai chiến sĩ bí mật theo đuôi và máy bay địch thường đổ quân để nghiên cứu địa hình, và tổ chức vây đánh địch khi chúng đổ bộ đường không. Đúng như ông dự đoán, sau khi đoàn xe cơ giới của địch bị trúng mìn thiệt hại nặng nề, chúng cho máy bay trực thăng chở quân đổ bộ xuống nơi đường rút của lực lượng ta. Khi địch vừa tỏa ra xung quanh, chúng dẫm phải mìn cai sẵn của ta khiến nhiều tên bị chết và bị thương tại chỗ. Đồng thời, chúng xa vào trận địa phục kích của ta nên trận này địch bị thiệt hại nặng nề, trận đánh kinh điển này đã xóa sổ 2 trung đội Mỹ chỉ trong chớp mắt, khẳng định vị thế bậc thầy phục kích của “vua mìn đèo Hải Vân”.
Mỗi trận đánh của ông không đơn thuần là chiến thắng mà là bài học về nghệ thuật quân sự đỉnh cao, nơi trí tuệ và lòng dũng cảm hòa quyện thanh bản hùng ca bất tử. Với 53 lần được phong danh hiệu Dũng sĩ Diệt Mỹ, người lính ấy được đồng đội tôn vinh bằng tất cả sự kính phục, được quân thù kiêng nể bởi sự sợ hãi.
Đối phương thậm chí phải treo giải thưởng hậu hĩnh chưa từng có. Số vàng nhiều hơn chiều cao một người lớn cho ai bắt được con “hùm xám đèo Hải Vân”. Và tất nhiên, giá trị trao thưởng càng lớn, càng khẳng định vị thế bất khả chiến bại của vị vua nơi chiến trường khốc liệt.
Ngày 20 tháng 9 năm 1971 đã trở thành mốc vàng son trong cuộc đời của trịch Tố Tâm. Khi ở tuổi 26 xuân sanh, ông được nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, trở thành một trong những anh hùng trẻ tuổi nhất của cuộc kháng chiến trong Mỹ. Nhưng đó chưa phải là tất cả. Bộ ngực áo của người chiến sĩ ấy còn đầy ấp những huân chương danh giá. Huân chương kháng chiến trong Mỹ hạng nhất, 13 huân chương chiến công các hạng, 3 huân chương giải phóng hạng nhất. Mỗi tấm huân chương là một câu chuyện về lòng dũng cảm phi thường. Không dừng lại ở đây, tài năng xuất chúng đã đưa cho chàng trai trẻ trở thành đại đội trưởng đại đội 21, công binh thuộc đoàn 4 quân khu Trị Thiên, nơi ông tiếp tục viết nên những trang sử vàng trói lọi của dân tộc.
Có lẽ với buổi bây giờ, đó là cái tuổi mà nhiều người đang tìm đường lập nghiệp, thì khi ấy, Trịnh Tố Tâm đã trở thành huyền thoại với bảng thành tích khiến cả thế hệ phải ngưỡng mộ. Sau này, khi đất nước hoàn toàn thống nhất, người anh hùng Trịnh Tố Tâm đảm nhận chức vụ công tác quan trọng của Đảng và Nhà nước, không ngừng công hiến, từ cương vị bí thư trung ương đoàn, thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đến thứ trưởng bộ lao động, thương binh và xã hội. Dù ở bất cứ vị trí nào, ông cũng để lại dấu ấn sâu đậm bằng phong cách làm việc năng động, nhiệt huyết và tận tụy.
Không còn tiếng súng nơi chiến trưởng, nhưng ngọn lửa yêu nước trong ông vẫn cháy mạnh liệt khi trở thành người chuyên cảm hứng cho bao thế hệ trẻ Việt Nam về tinh thần, “đâu cần thanh niên có, đâu khó có thanh niên”. Hành trang từ người lính dũng cảm trở thành nhà lãnh đạo tài năng của ông, chính là minh chứng sống động nhất về một thế hệ anh hùng vừa cầm súng chiến đấu, vừa cầm cuốc xây dựng, mãi là tấm gương sáng về sự công hiến không mệt mỏi cho tổ quốc. Năm 1976, khi con gái đầu lòng ra đời, ông đã đặt tên con là Trịnh Hải Vân để kỷ niệm những ngày tháng chiến đấu gian khổ và hào hùng ở đèo Hải Vân.
Ông qua đời năm 1996 do căn bệnh ác tính, hậu quả của ảnh hưởng của chất độc màu da cam trong những năm tháng ở chiến trường. Sự hy sinh và lòng dũng cảm của ông đã trở thành biểu tượng cho tinh thần kiên cường, quả cảm của quân đội Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.



