NHÂN VẬT LỊCH SỬ PHẠM VĂN NGHỊ
câu chuyện về nhân vật lịch sử Phạm Văn Nghị
Có những con người sinh ra không chỉ để sống cho riêng mình mà còn để trở thành một phần linh hồn của dân tộc. Họ đi qua cuộc đời bằng những bước chân bình dị, nhưng dấu chân ấy lại in sâu vào lịch sử, để hàng trăm năm sau con cháu vẫn còn nhắc nhớ với niềm kính trọng và biết ơn. Trong dòng chảy đầy biến động của lịch sử Việt Nam thế kỉ XIX là thời đại mà đất nước đứng trước cơn cuồng phong xâm lược của thực dân phương Tây có một con người như thế Phạm Văn Nghị. Ông không phải vị vua đứng trên ngai vàng quyền lực, cũng không phải vị tướng nổi danh với những chiến thắng vang dội khắp sử sách. Nhưng ông lại là hình ảnh đẹp đẽ của một trí thức yêu nước, một vị quan thanh liêm và hơn hết là một con người đã dành trọn trái tim mình cho non sông đất Việt.
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử được viết bằng máu, bằng nước mắt và bằng lòng yêu nước của biết bao thế hệ con người. Từ thời dựng nước cho đến những cuộc chiến chống ngoại xâm kéo dài hàng nghìn năm, dân tộc ta chưa bao giờ thiếu những người dám sống vì dân, dám chết vì nước. Nếu người là vị anh hùng của thời đại chống Nguyên Mông, nếu Nguyễn Trãi là trái tim lớn của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, thì đến thế kỉ XIX, khi đất nước đứng trước nguy cơ mất chủ quyền vào tay thực dân Pháp, Phạm Văn Nghị lại trở thành một trong những ngọn lửa đầu tiên của tinh thần kháng chiến. Ở ông có sự kết hợp giữa trí tuệ của một nhà nho, nhân cách của một vị quan chân chính và khí phách của một người con yêu nước đến tận cùng.
Phạm Văn Nghị sinh năm 1805 tại làng Tam Đăng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định là mảnh đất vốn nổi tiếng là vùng quê địa linh nhân kiệt, nơi sinh ra nhiều hiền tài cho đất nước. Tuổi thơ của ông lớn lên giữa không gian của làng quê Bắc Bộ với những mái đình rêu phong, những cánh đồng lộng gió và truyền thống hiếu học bền bỉ của người dân quê lúa. Có lẽ chính mảnh đất giàu nghĩa tình ấy đã nuôi dưỡng trong ông từ rất sớm lòng yêu quê hương, tình thương đối với nhân dân và khát vọng cống hiến cho đất nước.
Ngay từ nhỏ, ông đã nổi tiếng thông minh, ham học và có nghị lực phi thường. Những năm tháng ấy, việc học đối với người dân nghèo không hề dễ dàng. Đằng sau mỗi trang sách là biết bao đêm dài thức trắng dưới ngọn đèn dầu leo lét, biết bao khó khăn của gia đình và biết bao hi vọng gửi gắm vào con đường khoa cử. Nhưng điều đáng quý ở Phạm Văn Nghị không chỉ là tài năng mà còn là mục đích học tập của ông. Ông học không phải để tìm kiếm vinh hoa phú quý mà để trở thành người có ích cho đất nước.
Chính bởi mang trong mình lí tưởng cao đẹp ấy mà con đường học vấn của ông luôn gắn liền với sự nỗ lực không ngừng nghỉ. Sau nhiều năm miệt mài đèn sách, ông đỗ Tiến sĩ dưới triều Nguyễn. Đó là thành quả xứng đáng cho trí tuệ và ý chí của một con người giàu khát vọng. Nhưng nếu nhiều người xem đỗ đạt là đỉnh cao danh vọng thì với Phạm Văn Nghị đó chỉ là điểm khởi đầu cho hành trình phụng sự nhân dân và ông đã chứng minh điều đó bằng cả cuộc đời của chính bản thân mình.
Có lẽ chính những tháng năm sống giữa sự lam lũ của quê hương đã khiến Phạm Văn Nghị hiểu rằng nỗi khổ lớn nhất của nhân dân không chỉ là cái đói hay sự nghèo khó, mà còn là cảm giác bất lực trước thời cuộc. Bởi vậy, ông học không chỉ để thay đổi số phận của riêng mình mà còn mong có thể góp phần làm cho cuộc đời của những con người quanh mình bớt đi đau khổ.
Trong lịch sử dân tộc, có những người dùng tài năng để bước lên đỉnh cao danh vọng, nhưng cũng có những người dùng tài năng để cúi xuống gần nhân dân hơn. Phạm Văn Nghị thuộc về kiểu người thứ hai.
Bước vào con đường làm quan, ông từng giữ nhiều chức vụ quan trọng trong triều đình nhà Nguyễn. Dẫu vậy, điều khiến người đời kính trọng ông không phải là địa vị mà là cách ông sống. Trong một xã hội phong kiến tồn tại nhiều bất công, nơi không ít quan lại chìm trong tham vọng quyền lực và tiền bạc, ông vẫn giữ cho mình sự thanh liêm và ngay thẳng hiếm có. Ông hiểu rằng quyền lực lớn nhất của một vị quan không nằm ở chức tước mà ở lòng dân.
Ở bất cứ nơi nào làm quan, Phạm Văn Nghị cũng hết lòng chăm lo cho cuộc sống nhân dân. Ông quan tâm đến nỗi khổ của người nghèo, lắng nghe tiếng nói của dân và luôn cố gắng giải quyết những bất công trong xã hội. Ông không xem dân là đối tượng để cai trị mà xem dân là gốc của quốc gia. Chính vì vậy, người dân yêu quý ông bằng sự kính trọng chân thành chứ không phải sự sợ hãi.
Điều làm nên sự lớn lao của một vị quan chưa bao giờ nằm ở chiếc mũ quan hay quyền lực trong tay, mà nằm ở việc khi đứng trước nỗi khổ của nhân dân, họ chọn quay lưng hay cúi xuống sẻ chia. Và Phạm Văn Nghị đã chọn sống như một người mang trách nhiệm với dân tộc hơn là một kẻ hưởng đặc quyền từ thời đại.Có những con người càng ở vị trí cao càng xa rời nhân dân. Nhưng cũng có những con người càng đi xa càng đau đáu hướng về dân chúng. Ông là một con người như thế.
Nhưng cuộc đời của một con người chân chính thường không được sống trong những tháng ngày bình yên quá lâu. Giữa thế kỉ XIX, đất nước Việt Nam đứng trước thử thách lớn lao khi thực dân Pháp bắt đầu nổ súng xâm lược. Năm 1858, tiếng đại bác vang lên ở Đà Nẵng không chỉ phá tan sự yên bình của một vùng đất mà còn mở đầu cho bi kịch mất nước kéo dài hàng chục năm của dân tộc Việt Nam.
Đó là thời điểm đầy đau thương. Một dân tộc từng tự hào với lịch sử chống ngoại xâm hàng nghìn năm giờ đây phải đối mặt với sức mạnh quân sự hiện đại của phương Tây. Không khí lo sợ bao trùm khắp nơi. Có người bi quan, có người dao động, có người chỉ muốn giữ lấy sự an toàn cho bản thân. Nhưng chính trong những thời khắc đen tối nhất, lòng yêu nước của những con người chân chính lại bùng cháy dữ dội hơn bao giờ hết.
Tháng Bảy năm Tự Đức thứ 11 (1858), khi tiếng đại bác của thực dân Pháp vang lên ở Sơn Trà Sơn Trà, mở đầu cho cuộc xâm lăng đầy máu và nước mắt đối với dân tộc Việt Nam, Phạm Văn Nghị dù đang mang bệnh vẫn không thể ngồi yên nhìn non sông lâm nguy. Trong khi nhiều người còn bàng hoàng trước sức mạnh quân sự hiện đại của kẻ thù, ông đã lựa chọn đứng lên bằng tất cả trách nhiệm và khí phách của một người con đất Việt. Ông tạm giao công việc cho bạn đồng khoa là Doãn Khuê, dâng lên vua bản “Trà Sơn kháng sớ” đầy tâm huyết rồi cùng các học trò và sĩ phu yêu nước ở Nam Định lập nên đội quân nghĩa dũng gồm 365 người để xin vào Đà Nẵng đánh giặc.
Hình ảnh một vị quan già mang trong mình bệnh tật nhưng vẫn quyết lên đường cứu nước đã trở thành một trong những hình ảnh xúc động nhất của buổi đầu chống Pháp. Ở tuổi ấy, lẽ ra ông có thể chọn cho mình sự an yên, nhưng trái tim của một con người yêu nước chân chính không cho phép ông sống bình yên khi Tổ quốc đang chìm trong khói lửa. Có lẽ, điều khiến hậu thế kính phục nhất ở Phạm Văn Nghị không chỉ là lòng dũng cảm mà còn là tinh thần dám hành động ngay cả khi biết trước con đường phía trước đầy gian nan.
Khi đoàn nghĩa dũng đến Huế thì quân Pháp đã rút khỏi Đà Nẵng để tiến vào Gia Định. Dù ông tha thiết xin tiếp tục vào Nam chống giặc, vua Tự Đức chỉ ban lời khen mà không chuẩn y. Ước nguyện trực tiếp cầm quân chống ngoại xâm của ông vì thế không thành. Nhưng chính nghĩa cử ấy đã làm rung động lòng người khắp Nam Bắc. Giữa thời buổi nhiều người còn hoang mang, sự xuất hiện của Phạm Văn Nghị giống như một tiếng chuông thức tỉnh tinh thần dân tộc, khơi dậy trong lòng sĩ phu và nhân dân ý chí không chịu cúi đầu trước ngoại bang.
Trở về đất Bắc, ông vẫn tiếp tục tận tâm với đất nước. Khi thổ phỉ người Trung Quốc tràn sang quấy nhiễu vùng Đông Bắc, ông lại đem đội nghĩa dũng vừa chiêu mộ được đi phòng giữ biên cương cho đến khi yên ổn mới thôi. Điều đó cho thấy trong con người ông, tình yêu nước chưa bao giờ chỉ nằm ở lời nói hay cảm xúc nhất thời, mà đã trở thành trách nhiệm gắn với từng hành động cụ thể trong suốt cuộc đời.
Năm 1873, khi thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội rồi tiến đánh Nam Định, dù đã gần bảy mươi tuổi, Phạm Văn Nghị vẫn tổ chức dân binh chặn đánh quân Pháp ở ngã ba Độc Bộ. Một con người tuổi đã cao, sức đã yếu nhưng vẫn không chịu buông bỏ trách nhiệm với non sông. Ông chiến đấu không phải vì danh vọng, mà bởi ông hiểu rằng: nếu những người yêu nước đều im lặng thì dân tộc sẽ mất đi hi vọng cuối cùng.
Dù lực lượng nghĩa quân quá ít ỏi trước sức mạnh quân sự của thực dân Pháp, ông vẫn chiến đấu đến cùng rồi rút quân về xây dựng căn cứ ở Yên Hàn để tiếp tục kháng chiến. Có những cuộc chiến thất bại về quân sự nhưng lại chiến thắng trong lòng dân tộc. Và cuộc đời của Phạm Văn Nghị chính là một minh chứng như thế. Ông không để lại cho lịch sử những chiến công lẫy lừng, nhưng ông để lại một điều còn lớn hơn: đó là khí phách của một con người suốt đời chưa từng quay lưng với đất nước.
Khi nghe tin giặc Pháp xâm lược, Phạm Văn Nghị vô cùng đau xót. Ông hiểu rằng nếu đất nước mất đi độc lập thì mọi danh vọng, quyền lực hay cuộc sống yên ổn đều trở nên vô nghĩa. Điều đau đớn nhất với một người yêu nước không phải là cái chết mà là nhìn non sông bị giày xéo. Trong khi nhiều người còn do dự trước sức mạnh quân sự của kẻ thù, ông đã lựa chọn đứng lên.
Dù tuổi đã cao, sức khỏe không còn sung mãn như thời trẻ, ông vẫn tự mình chiêu mộ nghĩa binh để vào Nam đánh giặc. Hình ảnh một vị quan già tóc bạc nhưng vẫn khoác áo lên đường cứu nước đã trở thành biểu tượng xúc động của tinh thần yêu nước Việt Nam. Ở tuổi mà nhiều người chỉ mong được sống bình yên bên con cháu, ông lại chọn bước vào hiểm nguy vì vận mệnh dân tộc. Đó không chỉ là lòng dũng cảm mà còn là trách nhiệm lớn lao đối với đất nước.
Có lẽ điều khiến người đời kính phục nhất ở Phạm Văn Nghị là tinh thần dám đứng lên ngay cả khi biết mình có thể thất bại. Ông hiểu rõ sự chênh lệch về vũ khí, hiểu sức mạnh của quân xâm lược, nhưng ông vẫn không lùi bước. Bởi đối với ông, điều đáng sợ nhất không phải là thất bại mà là sự im lặng trước vận mệnh dân tộc.
Đoàn nghĩa binh của ông không phải đội quân hùng mạnh với súng ống hiện đại. Vũ khí có thể thô sơ, lực lượng có thể yếu hơn kẻ thù, nhưng tinh thần của họ thì không gì khuất phục được. Họ chỉ là những người dân bình thường mang trong tim tình yêu nước cháy bỏng. Có người là nông dân quanh năm bán mặt cho đất bán lưng cho trời, có người là trai làng chưa từng bước qua chiến trận. Họ không ra đi để tìm kiếm vinh quang mà ra đi vì không muốn nhìn đất nước bị biến thành thuộc địa.
Trong lịch sử dân tộc, có những trận chiến thất bại nhưng tinh thần của những con người tham gia lại trở thành bất tử. Cuộc hành quân chống Pháp của Phạm Văn Nghị cũng như thế. Dẫu không tạo nên chiến thắng vang dội, nhưng nó đã thắp lên ngọn lửa yêu nước mãnh liệt trong lòng nhân dân. Chính những ngọn lửa ấy sau này đã hợp thành sức mạnh to lớn cho các phong trào kháng chiến khắp cả nước.
Điều khiến người đời cảm phục nhất ở Phạm Văn Nghị là dù biết trước con đường phía trước đầy khó khăn, ông vẫn không lùi bước. Có những cuộc chiến thất bại về mặt quân sự nhưng lại chiến thắng trong trái tim nhân dân và trong lịch sử. Đoàn quân của ông tuy không làm thay đổi hoàn toàn cục diện chiến tranh nhưng tinh thần yêu nước mà ông khơi dậy đã trở thành nguồn cảm hứng mạnh mẽ cho các phong trào kháng chiến sau này. Chính những con người như ông đã gieo xuống mảnh đất dân tộc hạt giống của ý chí bất khuất để rồi từ đó mọc lên biết bao cuộc đấu tranh anh dũng khác.
Khi đất nước lâm nguy, con người thường bộc lộ rõ nhất bản chất thật của mình. Có người chọn cúi đầu để giữ lấy sự an toàn. Có người chọn im lặng để bảo vệ cuộc sống riêng. Nhưng cũng có những con người chấp nhận hi sinh tất cả chỉ để giữ lại hai chữ non sông. Phạm Văn Nghị đã chọn con đường khó khăn nhất. Ông hiểu rõ sức mạnh của kẻ thù. Hiểu rõ sự chênh lệch về vũ khí. Hiểu rõ rằng con đường phía trước có thể chỉ dẫn đến thất bại. Nhưng ông vẫn bước tới. Bởi đối với một con người yêu nước chân chính, điều đau đớn nhất không phải là thất bại, mà là sống mà không làm gì khi Tổ quốc đang bị giày xéo.
Ngày nay, khi sống trong hòa bình, chúng ta khó có thể cảm nhận hết những đau thương của thời kì mất nước. Chúng ta lớn lên giữa những con đường yên bình, những mái trường đầy tiếng cười và một bầu trời không còn khói lửa chiến tranh. Nhưng mỗi lần nhắc đến Phạm Văn Nghị, ta như thấy hiện lên hình ảnh một người con đất Việt với ánh mắt đau đáu về vận mệnh non sông. Ông không chấp nhận sống bình yên khi Tổ quốc còn chìm trong nguy biến. Chính vì thế mà chúng ta càng phải biết ơn những thế hệ cha ông đã hi sinh để giữ gìn độc lập dân tộc. Và Phạm Văn Nghị là một trong những con người tiêu biểu của thế hệ ấy. Ông không chỉ để lại cho lịch sử một tấm gương yêu nước mà còn để lại bài học lớn về nhân cách làm người.
Trong xã hội hôm nay, khi con người dễ bị cuốn theo vật chất và những giá trị hào nhoáng, cuộc đời của ông nhắc chúng ta nhớ rằng giá trị lớn nhất của con người nằm ở lòng trung thực, trách nhiệm và tình yêu đối với quê hương đất nước.
Thời gian có thể làm phai mờ nhiều thứ, nhưng lòng yêu nước chân chính thì không bao giờ mất đi. Tên tuổi của Phạm Văn Nghị vẫn được người dân Nam Định và nhân dân cả nước nhắc nhớ với niềm kính trọng sâu sắc. Ông không chỉ là niềm tự hào của quê hương mà còn là biểu tượng đẹp của khí phách dân tộc Việt Nam trong buổi đầu chống Pháp. Có những người sống một cuộc đời rất dài nhưng rồi bị quên lãng. Cũng có những người chỉ cần sống đúng với lương tâm và lí tưởng của mình là đủ để trở thành bất tử. Phạm Văn Nghị chính là một con người như thế. Ông không cần những lời ca tụng hoa mỹ để trở nên vĩ đại. Chính cuộc đời ông đã là một bài ca đẹp về lòng yêu nước.
Mỗi lần nhắc đến ông, ta như thấy hiện lên hình ảnh một con người với ánh mắt luôn hướng về non sông, với trái tim chưa từng nguôi nỗi lo cho vận mệnh dân tộc. Một con người dẫu tuổi già sức yếu vẫn quyết đứng lên vì đất nước. Một con người dùng cả cuộc đời để chứng minh rằng tình yêu Tổ quốc không nằm ở lời nói mà ở hành động.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử của những con người biết sống vì điều lớn lao hơn bản thân mình. Và Phạm Văn Nghị đã sống một cuộc đời như thế. Ông ra đi nhưng khí phách còn ở lại. Ông thuộc về quá khứ nhưng tinh thần của ông vẫn sống trong hiện tại và sẽ còn tiếp tục sống trong tương lai.
“Có những chiến thắng làm nên lịch sử.
Nhưng cũng có những thất bại làm nên linh hồn dân tộc.”
Nếu không có những con người dám đứng lên từ những ngày đầu đen tối nhất của lịch sử, dân tộc Việt Nam có lẽ đã không thể giữ được ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ suốt hàng chục năm sau đó. Chính những con người như Phạm Văn Nghị đã âm thầm giữ cho dân tộc niềm tin rằng đất nước này có thể nghèo, có thể yếu, nhưng sẽ không bao giờ chịu khuất phục.
Trong cuộc sống hôm nay, khi chiến tranh đã lùi xa, lòng yêu nước không còn được thể hiện bằng gươm giáo hay những đoàn nghĩa binh ra trận. Nhưng tinh thần của Phạm Văn Nghị vẫn còn nguyên giá trị. Đó là sống có trách nhiệm với quê hương, học tập chăm chỉ, biết yêu thương con người và dám đặt lợi ích cộng đồng lên trên lợi ích cá nhân. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi thế hệ trẻ biết trân trọng lịch sử và tiếp nối những giá trị tốt đẹp mà cha ông để lại.
Có lẽ bài học lớn nhất mà Phạm Văn Nghị để lại cho hậu thế chính là sức mạnh của sự đoàn kết. Một đất nước dù giàu mạnh đến đâu cũng sẽ suy yếu nếu chia rẽ. Ngược lại, một dân tộc dù nhỏ bé vẫn có thể đứng vững trước mọi thử thách nếu biết đồng lòng. Tinh thần đoàn kết ấy đã trở thành truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam suốt hàng nghìn năm lịch sử. Chính nhờ tinh thần ấy mà dân tộc ta đã vượt qua biết bao cuộc chiến tranh khốc liệt để bảo vệ nền độc lập.
Có những con người bước qua cuộc đời như một cơn gió thoảng, nhưng cũng có những người trở thành linh hồn của cả một thời đại. Phạm Văn Nghị là một con người như thế. Ông đã sống không chỉ bằng trí tuệ mà bằng cả trái tim dành cho đất nước. Và dù thời gian có trôi xa đến đâu, hình ảnh vị quan già mang trong mình ngọn lửa yêu nước ấy vẫn sẽ còn sống mãi trong tâm hồn dân tộc Việt Nam như một lời nhắc nhở thiêng liêng về trách nhiệm, lòng trung nghĩa và tình yêu bất diệt dành cho non sông đất nước.
Có lẽ, điều vĩ đại nhất ở Phạm Văn Nghị không nằm ở những gì ông sở hữu trong cuộc đời mình, mà nằm ở những gì ông đã dâng hiến cho dân tộc. Bởi suy cho cùng, giá trị của một con người không được đo bằng danh vọng hay quyền lực, mà được đo bằng dấu ấn họ để lại trong trái tim nhân dân và trong lịch sử đất nước.
Ngày hôm nay, khi đứng giữa cuộc sống hòa bình, nhìn những con đường yên bình, những mái trường rộn vang tiếng cười và lá cờ đỏ tung bay trên bầu trời độc lập, chúng ta càng thấm thía hơn sự hi sinh thầm lặng của những thế hệ cha ông đi trước. Và giữa những con người đã dành cả cuộc đời mình cho non sông ấy, Phạm Văn Nghị vẫn hiện lên như một biểu tượng đẹp của lòng yêu nước Việt Nam âm thầm nhưng bất diệt, giản dị nhưng lớn lao.
Ông giống như một ngọn lửa không bao giờ tắt trong tâm hồn dân tộc. Một ngọn lửa nhắc chúng ta phải biết sống tử tế hơn. Biết yêu quê hương nhiều hơn. Biết trách nhiệm với đất nước nhiều hơn.
Để rồi mỗi thế hệ mai sau, khi nhắc đến tên ông, không chỉ là nhắc đến một nhân vật lịch sử, mà còn là nhắc đến khí phách của cả một dân tộc chưa bao giờ chịu khuất phục trước bất kì cơn bão nào của lịch sử. Nếu lịch sử dân tộc là một dòng sông lớn, thì Phạm Văn Nghị bước vào lịch sử không chỉ bằng chiến thắng, mà bằng khát vọng dựng nước và ý chí thống nhất non sông.
Có lẽ, điều khiến hậu thế kính trọng nhất ở Phạm Văn Nghị không phải là ông đã sống bao lâu, mà là trong suốt cuộc đời ấy, ông chưa từng sống cho riêng mình. Từ những năm tháng miệt mài đèn sách cho đến khi tóc đã bạc màu theo thời gian, trái tim ông vẫn luôn hướng về nhân dân, về quê hương và về vận mệnh của đất nước.
Lịch sử đôi khi được tạo nên bởi những trận chiến lớn, nhưng sâu xa hơn, lịch sử được làm nên bởi những con người dám sống cho điều lớn hơn chính bản thân mình. Phạm Văn Nghị đã không sống như một vị thủ lĩnh chỉ biết tranh đoạt quyền lực. Ông sống như một người mang trong tim khát vọng cứu nước.
Và rồi ta chợt hiểu rằng lịch sử chưa bao giờ chỉ là những trang sách cũ nằm im trong quá khứ. Lịch sử là ký ức của một dân tộc là linh hồn của non sông được giữ gìn qua biết bao thế hệ. Những con người như Phạm Văn Nghị vì thế chưa bao giờ thật sự rời khỏi đất nước này. Họ vẫn hiện diện trong từng dòng sông, ngọn núi, trong niềm tự hào dân tộc và trong ý chí vươn lên của con người Việt Nam hôm nay.
Có những con người bước qua thời đại rồi dần chìm vào quên lãng. Nhưng cũng có những con người càng lùi xa trong lịch sử lại càng trở nên bất tử trong lòng dân tộc. Phạm Văn Nghị là một con người như thế. Ông ra đi khi đất nước còn chìm trong khói lửa. Nhưng thứ ông để lại cho mai sau không phải là nỗi bi thương của chiến tranh, mà là ánh sáng của lòng yêu nước, của khí phách Việt Nam và của một nhân cách lớn lao chưa bao giờ cúi đầu trước thời cuộc. Để hôm nay và cả mai sau nữa, khi nhắc đến ông, lòng người Việt Nam vẫn không khỏi lặng đi trong niềm kính trọng và biết ơn sâu sắc.
Là một học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường, em tự nhủ rằng bản thân phải không ngừng cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức và sống có trách nhiệm hơn với quê hương, đất nước. Bởi thế hệ trẻ hôm nay chính là những người sẽ tiếp nối hành trình mà cha ông đã đánh đổi bằng biết bao mồ hôi, nước mắt và cả máu xương để giữ gìn. Học về Phạm Văn Nghị, em không chỉ thêm tự hào về truyền thống yêu nước của dân tộc mà còn hiểu rằng lòng yêu nước không phải là những điều gì quá lớn lao hay xa vời. Đôi khi, lòng yêu nước bắt đầu từ chính những điều bình dị nhất: học tập chăm chỉ, sống tử tế, biết yêu thương con người, biết sẻ chia và luôn ý thức trách nhiệm với cộng đồng, với Tổ quốc.
Em tin rằng, chừng nào thế hệ trẻ còn biết cúi đầu trước lịch sử, biết trân trọng những hi sinh của cha ông và tiếp nối những giá trị tốt đẹp mà các thế hệ đi trước để lại, thì ngọn lửa yêu nước của dân tộc Việt Nam sẽ mãi mãi không bao giờ tắt. Và hình ảnh Phạm Văn Nghị là người con ưu tú đã dành trọn cuộc đời mình cho non sông đất nước sẽ vẫn luôn sống mãi như một biểu tượng đẹp của khí phách, lòng trung nghĩa và tinh thần bất khuất Việt Nam.”



