Nhân vật Nguyễn Trãi-nhà chính trị,nhà văn lớn của Việt Nam
Năm 1428, Lê Lợi xưng vương, đất nước hết giặc Minh. Nguyễn Trãi được phong Nhập nội hành khiển, ngày ngày vào chầu, đêm về soạn thảo chiếu chỉ. Chữ của ông đi tới đâu, quân lính đọc tới đó là ấm lòng tới đó.
Nhưng triều đình sau chiến tranh lại là chỗ ngột ngạt nhất.
Trần Nguyên Đán, ông ngoại của ông, từng bảo: “Người hiền ở triều thì dễ bị lửa đốt”. Nguyễn Trãi cười cho qua. Đến khi thấy những người từng vào sinh ra tử quay ra tranh công, tố nhau tham nhũng, ông mới thấy lời ông ngoại đúng.
1430, ông dâng sớ xin về trí sĩ. Vua Lê Thái Tổ chuẩn y. Ông vác một bọc sách, một cây đàn, về Côn Sơn.
Côn Sơn khi ấy là rừng sâu, chỉ có vài hộ dân đốn củi. Ông dựng nhà bên suối, đặt tên là “Ngô Đồng”. Trước cửa trồng trúc, sau nhà đào ao thả sen. Mỗi ngày ông dậy từ canh năm, ra suối rửa mặt bằng nước lạnh, rồi ngồi viết. Đói thì hái măng, rét thì đắp chiếu rơm. Người làng thấy quan lớn về ở như nông dân thì vừa kính vừa thương.
Một lần, có người bạn cũ từ kinh thành lên thăm. Thấy ông mặc áo vải, chân đi guốc mộc, bạn hỏi: “Ông không tiếc phú quý sao?”.
Nguyễn Trãi chỉ vào rặng trúc: “Trúc thẳng mà không cứng. Gió lay thì nghiêng, gió qua thì đứng lại. Làm quan cũng thế, phải biết khi nào nên thẳng, khi nào nên mềm. Ta thẳng mãi thì gãy rồi”.
Nhưng ông không bỏ việc nước. Trong 12 năm ở ẩn, ông viết Bình Ngô đại cáo. Không phải ngồi bàn gỗ, mà viết trên chiếu tre, dưới ánh đèn dầu leo lét, muỗi rừng vo ve. Câu “Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu” viết đi viết lại mấy tháng, vì ông muốn chữ nào ra cũng là máu, là mồ hôi của 10 năm kháng chiến.
Năm 1440, vua Lê Thái Tông nối ngôi, tuổi còn trẻ, nghe danh Nguyễn Trãi liền sai sứ mang xe ngựa, lụa là, mời ông ra làm Tể tướng. Sứ giả đứng chờ từ sáng tới trưa. Nguyễn Trãi tiếp sứ bằng một bát cơm nguội và dĩa rau rừng. Ông nói:
“Ta ở đây, cơm rau thì đủ. Ra kinh thành, cao lương mỹ vị thì no bụng, nhưng no lòng thì chưa chắc. Xin bệ hạ để ta yên với suối và trúc”.
Ông từ chối. Nhưng vẫn âm thầm viết chiếu, vẫn âm thầm dạy học cho trẻ con trong làng. Có đứa trẻ hỏi: “Sao ông không ở kinh thành, ở đó mới làm nên chuyện lớn?”. Ông đáp: “Chuyện lớn không phải ở kinh thành. Chuyện lớn là khi nào chết, người ta còn nhắc đến tên mình vì mình đã sống tử tế”.
1442, vụ án Lệ Chi Viên nổ ra. Cả nhà ông bị tru di. Côn Sơn bị đốt, Ngô Đồng bị chặt. Nhưng người dân vẫn lén giấu mấy bản Bình Ngô đại cáo chép tay, truyền cho nhau như báu vật.
300 năm sau, người ta dựng lại am Bạch Vân ở Côn Sơn. Trước am có hai cây thông do chính tay ông trồng. Gió thổi qua, lá thông reo như vẫn còn tiếng người đọc: “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân…”.



