Nhân vật phụ nữ với bi kịch chiến tranh
Truyện ngắn sau 1975 về chiến tranh đã khắc họa hình tượng những người phụ nữ từ góc độ bi kịch trong số phận cá nhân. Bi kịch của họ cũng là bi kịch chung của con người đi qua chiến tranh.
Nhiều nhân vật người mẹ xuất hiện trong truyện ngắn thời kỳ này với nỗi đau không gì khỏa lấp khi mất đi những đứa con. Không chỉ phải chịu đựng nỗi đau mất đi một phần máu thịt, mà họ còn đau đáu tìm được hài cốt con về, rồi bao nhiêu xúc cảm đeo đẳng suốt phần đời còn lại. Nhân vật người bà trong Nắng chiều của Thụy Anh đã 80 tuổi, kiệt sức sau nhiều năm hỏi han tin tức cậu Bình, vẫn phấn chấn như hồi sinh khi tìm được người tổ chức đoàn đi tìm mộ con vào Quảng Ngãi, rồi khi biết ngôi mộ đã có người chuyển ra Huế thì lại tiếp tục lần theo. Bà gặp một bà mẹ liệt sĩ khác, được đề nghị coi là con chung, không làm động đến mồ mả nữa. Cũng rơi vào hoàn cảnh ấy là bà cụ Ngự, mẹ của Lộc, đổ bệnh đã lâu mà hài cốt con vẫn chưa được quy tập, dù đã mấy chục năm sau chiến tranh trong Đất ấm của Đỗ Văn Nhâm. Có lẽ may mắn hơn, nhân vật bà cụ Lăng ở Bến trần gian của Lưu Sơn Minh được gặp lại con mình khi hồn ma anh trở về, trò chuyện với con, giấu nỗi thương nhớ để cho con đi thanh thản. Bà thường khóc thầm khi nhớ con trong cảnh sống đơn độc nhưng vẫn tỏ ra cứng rắn, mạnh mẽ. Đó còn là người mẹ mà niềm tin mạnh hơn cả cái chết, không bao giờ vơi cạn dù mòn mỏi chờ con, tự dối lòng mình trong Bà Thỏn của Trần Thanh Hà. Đặc biệt hơn, có người mẹ bày đồ cúng con trên máy bay, trên vùng trời con mình là chiến sĩ phi công hy sinh gần ba mươi năm trước như ở Mây trắng còn bay của Bảo Ninh. Lặng lẽ âm thầm là người mẹ gần năm mươi tuổi đã mù lòa, người dì của Tư trong Hữu khuynh của Bảo Ninh, phải sống nương nhờ vào cháu vì hai đứa con là những tên lính ngụy sát nhân khét tiếng đã chết trẻ. Một người mẹ khác, thậm chí đau đáu tìm tung tích của con đến chết vì sự ra đi của nó còn có những lời đồn đoán không minh bạch trong Thời gian của Cao Duy Thảo.
Bên cạnh những người mẹ mất con là những người vợ tiễn chồng ra trận. Nhân vật này được miêu tả với đặc trưng truyền thống, nếp nghĩ của phụ nữ Việt Nam giàu lòng thủy chung, đức hy sinh, niềm hy vọng vô bờ nên khi chồng thành liệt sĩ thì họ sống một mình nuôi con hoặc cô quạnh. Đó là nhân vật mẹ của tôi trong Chuyện xưa kết đi, được chưa? của Bảo Ninh, ở vậy nuôi dạy ba người con trưởng thành; được sự giúp đỡ của đồng đội chồng, bà sống với sự khắc cốt ghi tâm tình nghĩa đó, dường như không còn nghĩ đến tình cảm riêng tư của bản thân mình. Còn người mẹ trẻ cùng đứa con gái cao đến tai mẹ đi thăm mộ chồng là liệt sĩ trong Thanh minh trời trong sáng của Ma Văn Kháng là cảnh ngộ của bao phụ nữ Việt Nam thời kỳ đó. Bi kịch hơn, người góa phụ trong Trận gió màu xanh rêu của Võ Thị Hảo trở nên điên dại, không tin người chồng đã chết sau lần định di chuyển mộ nhưng trong đó là xương đầu nai. Còn có thể gặp nhiều nhân vật phụ nữ mất chồng bởi chiến tranh như người em trong Đi thăm chồng của Dạ Ngân, Người sau cùng trở về làng Vọc của Hoàng Phương Nhâm. Họ mòn mỏi đợi người thân dù biết chắc không trở về nữa.
Một cảnh ngộ trớ trêu, bi kịch khác của người phụ nữ sau chiến tranh là dù chồng họ có trở về cũng mang thương tích nặng hoặc không thể có những đứa con lành lặn. Nhân vật phụ nữ được đặc tả với mong ước giản đơn trong cuộc sống là có một gia đình đủ đầy bình thường cũng là điều ngoài tầm với của họ. Góc độ miêu tả này chỉ có trong truyện ngắn sau 1975. Nhân vật Sao trong Mười ba bến nước của Sương Nguyệt Minh là số phận của cô gái chìm đắm trong chuỗi thời gian đầy tuyệt vọng khi sinh ra những thứ không mang hình hài con người. Hòa bình cũng chứa đựng biết bao sóng ngầm, người phụ nữ ở đây chênh vênh trên bến tình người. Cũng rơi vào cảnh tương tự là nhân vật tôi ở Người đàn bà sau chiến tranh của Từ Nguyên Tĩnh, bị giày vò khi nghĩ đến có một đứa con với Dũng, rồi phải chia tay Phúc khi cô yêu cả hai người hồi chiến tranh, nhưng lấy Phúc vì được tin Dũng hy sinh. “Chẳng lẽ tôi không có quyền làm mẹ, sinh nở cho mình một đứa con, dẫu chúng hư hỏng cũng được, đằng nào tôi cũng biết mình là mẹ” (2), câu hỏi như tiếng nói thống thiết về thiên chức của người phụ nữ bị chiến tranh đặt vào tình cảnh bất thường. Cùng chung cảnh ngộ với họ là chị Lành trong Tiếng lục lạc của Nguyễn Quang Lập, quá nửa đời người mới gặp lại anh Chi. Đã 46 tuổi nên thuốc thang mãi chị mới có thai trong niềm khấp khởi mong ngóng nhưng chị sinh ra một hình hài dị dạng vì bị nhiễm chất độc điôxin. Tiếng lục lạc của người cha rung lên tưởng chừng báo hiệu thành công nhưng lại để lại khoảng lặng phía cuối chuyện về nỗi đau của người phụ nữ không thể làm mẹ. Còn nhân vật chị trong Bến đàn bà của Nguyễn Mạnh Hùng, trong mơ thường gặp hai ấu hồn con chị với câu hỏi mà chị không thể trả lời rằng vì sao chúng lại không có hình hài con người?
Còn nhiều người phụ nữ khác như Thắm trong Những bóng người trên đất của Trịnh Sơn, người thương binh trong Những giấc mơ có thực của Vũ Thị Hồng, phải đối diện với bi kịch chiến tranh. Điểm chung của họ là bị chiến tranh cướp đi người thân hoặc trả họ trở về không còn lành lặn, không thể hoặc ít khả năng có một gia đình đầy đủ với những đứa con. Lắng lại sau mỗi câu chuyện là nỗi đau, phần khuyết thiếu không thể bù đắp trong số phận của họ sau chiến tranh. Họ được tô đậm ở đức tính hy sinh, tình cảm sâu nặng, nghị lực kiên cường. Kiểu nhân vật này gắn với cảm hứng bi kịch, phổ biến trong văn học sau 1975 nói chung trên mọi đề tài, nhân vật.
Ở một khía cạnh khác, bi kịch của người phụ nữ sau chiến tranh còn là sự dang dở tình duyên, không có một tổ ấm cho riêng mình. Lớp lớp thanh niên tình nguyện ra chiến trường, đi thanh niên xung phong, hiến dâng tuổi xuân, xương máu, tính mạng của mình. Họ đi mang theo bao lời hẹn thề, cũng có người như trang giấy trắng chưa kịp viết lời yêu.
Sau khi cơn bão chiến tranh tràn qua, nhiều cuộc đời trở thành dang dở nhưng có lẽ khắc khoải nhất vẫn là những người phụ nữ. Họ chơi vơi, vô định trên con đường đi tìm hạnh phúc. Tuổi trẻ, nhan sắc, sức sống đã hao mòn bởi thời gian, bởi chiến tranh cùng với nếp sống tình cảm, sự chi phối của dư luận khiến họ gặp nhiều trắc trở tình duyên, nhiều người thậm chí sống đơn độc phần đời còn lại. Đó là Thảo trong Người sót lại của Rừng Cười của Võ Thị Hảo, bỏ đi biệt tích khi nhận thấy người yêu đã lạnh nhạt. Giữ được tính mạng ra khỏi chiến tranh nhưng hạnh phúc không ở lại với cô thanh niên xung phong đã không còn xinh đẹp tràn đầy sức sống như khi bước vào cuộc chiến. Lòng tự trọng, ý thức sống khiến cô không chấp nhận được sự khiên cưỡng, trách nhiệm trong tình yêu.
Cũng phải kể đến Túc trong Xưa kia chị đẹp nhất làng của Tạ Duy Anh, Mây trong Người ở bến sông Châu của Sương Nguyệt Minh, H’Noanh trong H’Noanh, chị tôi của Trung Trung Đỉnh, Mua trong Người thọ nạn của Hoàng Đình Quảng... Những nhân vật này được miêu tả mang theo sự hụt hẫng, dang dở, mất phương hướng trong việc kiếm tìm tình yêu, hạnh phúc sau chiến tranh. Những lý do khách quan khiến họ rơi vào tình cảnh thích nghi với cuộc sống thiếu vắng người đàn ông, hầu như không còn hy vọng về tương lai. Bởi cuộc đời của họ thường được đặc tả ở thời điểm hiện tại, khi nỗi cô đơn đã theo họ bước sang tuổi xế chiều. Họ góp thêm tiếng nói phản đối sự phi nhân tính của chiến tranh khi chia cắt những tình cảm thiêng liêng của con người. Những nhân vật phụ nữ với chấn thương, bi kịch sau chiến tranh cũng xuất hiện khá nhiều trong tiểu thuyết chiến tranh. Đó là Thu trong Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Quy trong Chim én bay của Nguyễn Trí Huân... thể hiện cái nhìn khách quan, tiếp cận đề tài qua số phận cá nhân của nhà văn sau giải phóng.
Con người sau chiến tranh với thương tật về thể chất, mang theo khuyết thiếu, vết thương tâm hồn, tình cảm là một vấn đề cần quan tâm gắn với tinh thần nhân văn, nhân bản của văn học nói chung, truyện ngắn chiến tranh nói riêng.



