Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHẤT ĐÀO MỲ (SẮN) NHÌ ĐÁNH GIẶC

Giai đoạn 1969-1970 là thời kỳ thử thách nghiệt ngã nhất của Trung đoàn 2 khi phải đối mặt với cái đói quay quắt và bệnh tật bủa vây do địch đánh phá, ngăn cắt nguồn tiếp tế từ đồng bằng. Trong hoàn cảnh "cá thiếu nước", đơn vị đã được cứu sống nhờ "rẫy mì Cách mạng" và sự nhường cơm sẻ áo vô điều kiện của đồng bào Ba-na cùng chính quyền tỉnh Bình Định. Chính từ những tháng ngày gian khổ ăn củ mì thay cơm, ý chí diệt giặc và khát khao trở lại đồng bằng đã trở thành động lực mạnh mẽ để Trung đoàn

Lai Châu09/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tình cảnh Trung đoàn 2 những năm 1969-1970 đúng là phải lo cái ăn trước rồi mới tính chuyện đánh giặc.

Sau Tổng tiến công Mậu Thân 1968, địch phản kích ráo riết thực hiện chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”. Cơ sở ta sau Tết Mậu Thân, số bị chết, số bị bắt, còn lại phải lên núi. Dân bị dồn vào các khu dồn, sống trong sự kìm kẹp của địch. Bộ đội chủ lực không còn chỗ đứng ở đồng bằng. Đau đớn nhất là mất nguồn cung cấp hậu cần to lớn từ nhân dân.

Ngày 7-9-1969, Trung đoàn làm lễ truy điệu Bác Hồ tại khu rừng phía đông dốc Cây Đu, tây đèo Ải, xã Phổ Cường, tỉnh Quảng Ngãi. Và nhận lệnh hành quân về Bình Định. Trung đoàn bộ đi về hướng Tây lên dốc An Toàn. Đường mòn men suối, phải lội qua lội về 32 lần mới tới chân dốc. Nói là An Toàn nhưng bây giờ chẳng an toàn tý nào. Cây cối bị chất độc giết chết, trống hoang trống huếch, trực thăng trinh sát của địch (anh em thường gọi “tàu rọ”) có thể vồ tới bất cứ lúc nào. Từ đây về đến căn cứ phải mất hai ngày nữa.

Tiểu đoàn bộ binh 2, đi dọc đồng bằng ven biển về thôn Trung Thứ, xã Mỹ Chánh, huyện Phù Mỹ. Cánh quân thứ 3 đặt tên là A15 đánh xuống Hoài Nhơn và kiếm gạo muối. Đánh không được ấp nào, gạo không có, phải ngược lên dốc Tân Sơn, đầm Ba Lãnh về Hội Văn. Một số người của Tiểu đoàn 3 và Đại đội vận tải bị chết dọc đường vì đói.

Cuối tháng 10-1969, toàn Trung đoàn về tới nơi quy định là đỉnh núi Bình An (dốc Bà Bơi, nơi thành lập Sư đoàn trước đây).

Một thảm cảnh hiện ra trước mắt: khắp các thôn xóm từ An Lão đến Ân Nghĩa qua Vĩnh Thạnh không còn một ngôi nhà nào, không trâu bò, không có tiếng chó sủa, gà gáy. Đường làng không có dấu chân người. Ruộng, vườn, cây cỏ mọc thành rừng non. Đúng là “điền vô ngưu canh, lộ vô nhân hành”. (Ruộng không có trâu cày, đường không có người đi).

Ban chỉ huy Trung đoàn họp. Vấn đề đặt ra cần giải đáp là cái ăn và nơi ở. Nếu ở núi Chóp Chài, có rừng rậm núi cao, gần vùng đồng bằng Hoài Nhơn và Phù Mỹ nhưng xung quanh địch chiếm dày đặc. Nếu lộ là không có đường lui. Nếu ở núi Bà, có nhiều hang đá nhưng quá sâu trong vùng địch. Chỉ còn khu căn cứ của tỉnh ở Hòn Nọc (cao 918 mét) và Hòn Chè (cao 816 mét) là vững chắc nhưng cái ăn sẽ lấy ở đâu. Đã hơn một tuần nay cả Trung đoàn hết gạo. Người ốm cũng không có cháo gạo. Các đơn vị gom tư trang như vải dù hoa, bi đông Mỹ, đèn pin Mỹ... vào các bản đồng bào dân tộc đổi lấy củ mỳ (sắn) về nạo ra nấu cháo cho bộ đội. Nhưng bộ đội thì đông mà đồng bào thưa thớt và cũng nghèo đói vì lúa, bắp, mì đều bị chất độc hóa học phá trụi.

Bộ đội đau ốm nhiều, nhất là bệnh Sâu quảng (ghẻ hờm). Cán bộ, chiến sỹ mắt trắng dã, sâu hóm. Các chiến sỹ gái càng đáng thương: má tóp, tóc rụng, áo quần rộng thùng thình...

Trung đoàn cử đồng chí Tròn, trưởng Tiểu ban quân nhu và tôi qua cơ quan tỉnh Bình Định gặp đồng chí Tâm, trưởng ban lương thực. Đồng chí Tâm dẫn tới đồng chí Tám Lý, bí thư Tỉnh ủy để xin gạo. Đồng chí Tám Lý giọng đầy thương cảm nói:

- Biết rồi, không phải giải thích. Cơ quan tỉnh cũng đói, đang chạy từng bữa. Các kho dự trữ của Tỉnh ở rừng sâu do chúng rải chất độc, trụi lá, máy bay phát hiện bắn rốc-két cháy hết. Dân bị dồn vào ấp, chúng cấp gạo từng ngày. Tình cảnh chúng ta giờ đây như cá không có nước. Nhưng chỉ trước mắt thôi.

Để cứu đói khẩn cấp cho Trung đoàn, đồng chí Bí thư Tỉnh ủy chỉ thị cho ban lương thực tỉnh giao toàn bộ rẫy mì (gọi là rãy mì Cách mạng) của xã Ka-bang huyện Vĩnh Thạnh cho đơn vị, xuất thêm 20kg gạo dự trữ của Tỉnh ủy cho các đồng chí thương binh nấu cháo. Trước khi chúng tôi ra về, đồng chí căn dặn:

- Mì đồng bào Ba-na trồng năm sáu năm, củ to, chui sâu vào hốc đá, gốc cây, khó đào nhưng phải moi bằng hết củ, không được bỏ sót. Đây là lương thực dự trữ dưới đất cuối cùng của Tỉnh.

Điều thứ 2 là dân Ba-na cũng đang đói mà vẫn dành rẫy mì cho Cách mạng, các chiến sỹ phải làm tốt công tác dân vận khi đến đào mì.

Điều thứ 3 là phải cảnh giác với máy bay địch, không được để lộ dấu vết.

Tối hôm đó ở lại cơ quan Tỉnh ủy, chúng tôi được ăn cháo và sáng hôm sau trở về đơn vị, 2 người được một nắm cơm vắt để ăn dọc đường, mặc dù cơ quan Tỉnh nhịn bữa sáng. Tại buổi giao ban các cơ quan Trung đoàn, sau khi nghe đồng chí Tròn báo cáo kết quả chuyến đi qua tỉnh, Chính ủy Trung đoàn Dương Minh Ngọ đã xúc động nói: “Chỉ có coi Trung đoàn như con em của mình thì Tỉnh mới chăm lo cho chúng ta như vậy. Dù là củ mì nhưng chúng ta đã có cái để sống rồi. Phải sống để tính chuyện đánh giặc thế nào cho tốt”.

Rãy mì nằm ở phía Tây sông Côn, đang mùa mưa, nước chảy xiết, không có cầu. Trung đoàn trưởng Vũ Quang Trắc (Huy) ra lệnh cho đại đội công binh chặt dây song, chăng thành 2 sợi qua sông. Một sợi cho bộ đội đi, một sợi cho số trở về. Đi lúc mờ sáng còn nhiều sương, về khi trời chiều đã có mù. Có tổ bảo vệ 2 bên bờ sông để canh máy bay và đề phòng cứu người bị nước cuốn.

Bộ phận đào mì được quán triệt không được tự do nấu nướng, không được hái rau quả của dân và phải đào hố vệ sinh cẩn thận.

Để thuận lợi cho việc đào mì, đội hình các đơn vị được điều chỉnh thích hợp. Trung đoàn bộ ở dốc Đót đến suối Nước Miên (Đakmiên). Tiểu đoàn 3 vượt sông Côn đứng tại phía nam suối Sum (Đak-sum). Đại đội vận tải ở phía bắc suối Sum, gần rãy mì để vận chuyển mì cho lớp tập huấn cán bộ Trung đoàn sắp tới. Đồng thời cử một bộ phận thái mì, sấy khô để dự trữ lâu dài.

Bây giờ chúng tôi mới thấm thía giá trị “Rãy mì Cách mạng” của đồng bào Ba-na. Nhờ rãy mì khổng lồ của bà con mà Trung đoàn 2 được cứu sống, có thời gian để củng cố lực lượng khi Cách mạng gặp khó khăn.

Dưới bàn tay của các bếp trưởng, mì được chế biến không chỉ để thay cơm mà còn thay cả thức ăn.

Trung đoàn mở lớp tập huấn cán bộ. Đồng chí Nguyễn Nam Khánh, Chính ủy Sư đoàn về dự, cũng ăn củ mì như anh em. Số cán bộ Tiểu đoàn 2 ở đồng bằng lên họp, mang theo gạo, chỉ huy Trung đoàn ra lệnh dành số gạo đó để nấu cháo cho các đồng chí đau ốm và ghế mì cho các đồng chí lớn tuổi.

Tết đến, ba người được chia một gói mì Ông Phật và một lon cá Tokyo, có cả bánh chưng bánh tét bằng mì.

Sau Tết âm lịch, bộ đội bắt đầu huấn luyện. Suốt 4 tháng liên tục ăn mì và rau rừng nên giờ nghỉ lính ta chỉ nói chuyện ăn. Người nào cũng ao ước chỉ cần được bữa cơm với muối. Các đồng chí quê miền Nam hứa khi nào xuống đồng bằng sẽ mời anh em ăn một bữa cơm với cá lóc, cá rô kho nồi đất. Đồng chí quê Mỹ Thắng, Mỹ Thọ thì hứa sẽ mời ăn cơm với cá mực cá thu. Từ chuyện ăn, dần dà sang chuyện phải đánh địch, phá thế kìm kẹp của chúng, mở dân ra khỏi các ấp, các khu dồn thì ta mới có cái ăn, mới có đất đóng quân. Quyết tâm diệt địch thấm vào lòng chiến sỹ không chỉ qua các bài học chính trị mà chính qua cuộc sống khốn khó của mình. Ai cũng mong muốn được ra trận, được xuống đồng bằng.

Ước mong đó đã đến. Đầu tháng 3-1970, sau 6 tháng ăn củ mì và ôn tập, Trung đoàn lần lượt xuống đồng bằng đánh địch. Trên vai, ngoài súng đạn, còn mang theo mì tươi, mì sấy khô và cả bánh chưng bánh tét bằng mì mài và bánh mì bằng củ mì hấp giã nhuyễn... Đội hình Trung đoàn được bố trí ở phía Tây hai huyện Phù Mỹ và Phù Cát. Trung đoàn bộ đứng ở đông nam núi Hòn Chè, đội phẫu đứng ở núi Khỉ, phía đông đường 1, giữa xã Mỹ Thọ và xã Mỹ Chánh, gần Tiểu đoàn bộ binh 2. Tiểu đoàn 3 đứng ở suối Son, đèo Bồng, phía tây xã Mỹ Hiệp. Tiểu đoàn 1 đứng từ đèo Sung đến đèo Mọi, phía tây xã Mỹ Lộc, nhìn rõ các căn cứ địch ở đèo Nhông và đèo Phủ Cũ.

Huyện Phù Mỹ nằm ở trung tâm tỉnh Bình Định, có 16 xã và có tới 12 cái đèo: đèo Lộ Diêu, đèo Phú Thứ, đèo Phủ Cũ, đèo Ông Bộ, đèo Cây Sung, đèo Mọi, đèo Măng Lăng, đèo Bồng, đèo Ngụy, đèo Ông Phi, đèo Cột Cờ và đèo Nhông. Về quân sự đây là một lợi thế địa hình cả khi tiến và khi lui. Nhưng bọn địch thường bố trí đóng chốt hoặc phục binh, bởi vậy những cuộc hành quân của Trung đoàn bao giờ cũng phải mở đường mới – đường không có trong bản đồ.

Hơn 6 tháng qua, Trung đoàn đã cho Tiểu đoàn 2 phân tán hoạt động nhỏ lẻ ở vùng đông huyện Phù Mỹ. Cán bộ Tiểu đoàn làm xã đội trưởng xã Mỹ Chánh, chỉ huy lực lượng dân quân du kích mà quân số hầu hết là cán bộ chiến sỹ của Tiểu đoàn. May mắn Tiểu đoàn này là đơn vị có nhiều người miền Nam nên việc “biến thành” bộ đội địa phương khá thuận lợi trong hoạt động vùng sâu, cài cắm trong dân dễ che mắt địch.

Từ kinh nghiệm của Tiểu đoàn 2, lần này toàn Trung đoàn ra quân nhưng vẫn với phương thức hoạt động như bộ đội địa phương. Đánh diệt các chốt nhỏ và đánh vào các cơ quan hành chính cấp xã thôn, ấp để bung dân trở về quê.

Ngày 5-4-1970, Trung đoàn tiến đánh một loạt chốt điểm địch ở Gò Cớ (xã Mỹ Đức), núi Lồi (xã Mỹ An), Gò Mang (xã Mỹ Thọ), cầu Đá (xã Mỹ Chánh)...

Ngày 8-4-1970, phục kích Eo Gió, núi Miếu (xã Mỹ Thành), chặn đánh một Đại đội bảo an có xe bọc thép hộ tống đi cứu viện. Bọn lính thua chạy, bọn hội đồng ở xã Mỹ Chánh, Mỹ Thọ hoang mang bỏ nhiệm sở chạy về quận.

Ngày 3-6-1970, Đại đội trưởng Võ Thành Khuê (người xã Hoài Thanh) cùng 2 chiến sỹ cải trang xuống xã Mỹ Hòa, một xã được ngụy quyền Sài Gòn tặng huân chương “Anh dũng bội tinh” vì thành tích chống Cộng. Các đồng chí quyết đánh ban ngày để hạ uy danh của chúng. Ba người bí mật lọt vào trụ sở hội đồng từ 3 giờ sáng. Đến 8 giờ, khi bọn ác ôn đã ngồi quanh bàn làm việc, ba dũng sỹ của ta đạp cửa nhảy vào, dùng tiểu liên tiêu diệt toàn bộ bọn hội đồng xã rồi dán cáo thị: “Khôn ngoan thì hãy trở về với dân. Không có bất cứ nơi nào là an toàn cho bọn bán nước”. Các chiến sỹ ta trở về núi an toàn.

Tin bọn hội đồng xã Mỹ Hòa bị Cách mạng tiêu diệt nhanh chóng lan ra khắp huyện làm cho bọn ngụy quyền xã ấp càng hoang mang. Một số bỏ việc, một số nhận làm theo chỉ dẫn của cán bộ ta. Bọn ngụy đi càn không dám hung hăng như trước. Dân ở trong ấp được ra ngoài dễ dàng hơn. Trung đoàn chỉ đạo các đơn vị phối hợp với cán bộ địa phương tổ chức mít-tinh, đọc thơ, ca bài chòi... Gia đình binh lính ngụy xem văn nghệ, dự mít-tinh hiểu thêm chính sách của ta, vận động chồng con trở về. Có người tham gia biểu tình chặn xe địch đi càn quét...

Vùng đồng bằng huyện Phù Mỹ bắt đầu được mở ra. Trung đoàn vừa hoạt động quân sự, hoạt động chính trị và đặc biệt, từ nay đã có đủ gạo, thực phẩm và các nhu yếu phẩm cần thiết khác. Trung đoàn bước sang thời kỳ mới.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn