Nhật kí Đặng Thùy Trâm.
Nhật kí Đặng Thùy Trâm.
Ôi Tổ quốc ta, ta yêu như máu thịt
Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết
Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…”
Với bề dày 4000 năm lịch sử, gần 1000 năm chống phong kiến phương Bắc và mấy thế kỷ chống thực dân, đế quốc, hơn ai hết mỗi người con Việt Nam đều nhận thức rất rõ về giá trị của độc lập, tự do. Và chúng tôi cũng vậy, những học viên của Đại đội 358/Tiểu đoàn 3/Học viện KTQS thì tình yêu Tổ quốc chính là dòng máu chảy trong huyết quản, là nhịp đập của trái tim, là hơi thở, là sự sống của chính mình. Đặc biệt, với tôi, tình yêu Tổ quốc đã trở thành lí tưởng và đích đến, trở thành ước mơ và khát khao cháy bỏng khi bắt gặp cuốn sách huyền thoại: Nhật kí Đặng Thùy Trâm.
Ảnh bìa "Nhật ký Đặng Thùy Trâm"
Sinh ra và lớn lên trong một gia đình có bề dày truyền thống cách mạng, tôi lớn lên từ những câu chuyện kể của ông bà nội ngoại và của ba mẹ tôi. Ông nội của tôi là một thương binh, câu chuyện của ông kể cho con cháu nghe là những cuộc chiến đấu, những mất mát hi sinh của những người đồng đội mà trong mắt ông lúc nào cũng rung rưng lệ của một người cầm quân. Ông ngoại, bà ngoại và bà nội của tôi đều là dân công hỏa tuyến - thế hệ anh hùng của dân tộc Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ. Câu chuyện của ông bà là sự kiên cường bất khuất của con người Việt Nam. Vì thế mà lí tưởng của tôi - đứa con trai trưởng - cháu đích tôn của dòng họ luôn được ông bà bồi đắp từ những câu chuyện kể. Rồi một ngày - khi tôi còn rất nhỏ, ba mẹ tôi (những người thuộc thế hệ đầu tiên được hưởng hòa bình độc lập, nhưng trong kí ức của cha mẹ, bóng dáng của chiến tranh vẫn còn, nó hiện hữu qua từng bữa cơm ăn, qua từng chiếc áo mặc, thậm chí qua dòng máu đổ của ngững ngày đầu lao động khai trường khi cuốc phải những quả bom lép) đã mua về tặng tôi cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm với lời dặn dò “Con hãy đọc và phải ngẩng cao đầu để làm người con ạ!”. Và thế là cuốn nhật ký đến với tôi từ đó.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26/11/1942 trong một gia đình trí thức có bố là bác sĩ, mẹ là dược sĩ. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y Hà Nội năm 1966, nghe theo tiếng gọi của trái tim, người con gái Hà Nội ấy đã xung phong vào miền Nam chiến đấu, nơi có những người dân nghèo khổ, nơi mà những chiến sĩ của ta đang chiến đấu ác liệt nhất, anh dũng nhất. Chị được phân công phụ trách Trạm xá Đức Phổ (Quảng Ngãi), một bệnh viện dân y nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Cuốn nhật ký được chị viết từ ngày 8/4/1968 đến ngày 20/6/1970. Ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hi sinh anh dũng khi chưa đầy 28 tuổi. Cuốn nhật ký được một sĩ quan quân báo Mỹ tham gia chiến tranh ở chiến trường Đức Phổ, Quảng Ngãi nhặt được sau trận tập kích vào một “căn cứ của Việt cộng” đã suýt bị ném vào lửa, nhưng người phiên dịch đã khuyên anh ta “Đừng đốt, vì trong đó đã có lửa rồi!”. Và “Ngọn lửa” ấy đã dẫn Fredric và người anh trai là Robert Whitehurst (cũng là một cựu binh Mỹ trong chiến tranh Việt Nam) làm một cuộc hành trình vượt đại dương, tình nguyện đưa nhật ký của Đặng Thùy Trâm về với gia đình chị. Năm 2005, sau 35 năm lưu lạc trên đất Mỹ, cuốn nhật ký của Bác sĩ, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm đã trở về Việt Nam trong vòng tay yêu thương của người thân, bạn bè.
Bức ảnh chụp tại chiến trường - Bức ảnh hiếm hoi mà Bác sĩ, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm gửi được về cho gia đình
Chỉ vỏn vẹn với 321 trang nhưng dấu ấn mà cuốn nhật ký để lại trong lòng người đọc là sự khốc liệt của chiến tranh, là gian khổ và đắng cay của những con người Việt Nam trong chiến tranh, là mất mát đau thương không lời nào diễn đạt được. Sống mũi tôi cay xè, mắt tôi mờ đi khi bắt gặp những dòng nhật ký của chị:
“19.5.70. Được thư mẹ… Mẹ của con ơi, mỗi dòng chữ, mỗi lời nói của mẹ thấm nặng yêu thương, như những dòng máu chảy về trái tim khát khao nhớ thương của con… Ba năm qua, trên từng chặng đường con bước, trong muôn vàn âm thanh hỗn hợp của chiến trường, bao giờ cũng có một âm thanh dịu dàng tha thiết mà sao có một âm lượng cao hơn tất cả mọi bom đạn sấm sét vang lên trong lòng con. Đó là tiếng nói miền Bắc yêu thương, của mẹ, ba, của em, của tất cả”.
Qua đoạn nhật ký, ta thấy được nỗi nhớ nhà, nhớ tiếng nói của miền Bắc, của mẹ, của ba, của em và của tất cả mọi người, cũng như là xúc cảm dạt dào xúc động về những hình ảnh thuộc về thủ đô của Bác sĩ, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Yêu sâu sắc quê hương mình đến thế nhưng chị đã không ngần ngại khi Tổ quốc cần. Cháy trên trang viết là lý tưởng cống hiến, chiến đấu vì độc lập Tổ quốc, lý tưởng cống hiến, lý tưởng yêu nước và tinh thần nhiệt huyết, yêu nước nồng nàn của thế hệ trẻ như Bác sĩ, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Trong trái tim của người con gái ấy, thanh xuân khép lại để dành chỗ cho tình yêu Tổ quốc:
“Thêm một tuổi đời, vậy là cái tuổi ba mươi đâu còn xa nữa. Vài năm nữa thôi mình sẽ trở thành một chị cán bộ già dặn đứng đắn. Nghĩ đến đó mình thoáng thấy buồn. Tuổi xuân của mình đã qua đi trong lửa khói, chiến tranh đã cướp mất hạnh phúc trong tình yêu và tuổi trẻ. Ai lại không tha thiết với mùa xuân, ai lại không muốn cái sáng ngời trong đôi mắt và trên đôi môi căng mọng khi cuộc đời còn ở tuổi hai mươi? Nhưng… tuổi hai mươi của thời đại này đã phải dẹp lại những ước mơ hạnh phúc mà lẽ ra họ phải có…”.
Bác sĩ, Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm cùng các đồng đội tại bệnh xá Đức Phổ
Dẫu biết đời người chỉ được sống có một lần, tuổi thanh xuân là quãng thời gian tươi đẹp của mỗi con người, một đi không trở lại thế nhưng với Liệt sĩ Đặng Thùy Trâm, tuổi trẻ ấy chỉ cần thanh xuân có ý nghĩa là sống hết mình, cháy hết mình cho Tổ quốc, đó là lí tưởng của cả một thế hệ. Trang nhật ký của người anh hùng thuở ấy làm sống lại trong tôi một thời hào hùng của dân tộc:
“Đoàn vệ quốc quân một lần ra đi
Nào có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi ra đi thà chết chớ lui”
Chính điều đó đã truyền cho lớp trẻ như chúng tôi tình yêu đối với Tổ quốc.
“… Ba má và các em yêu thương, ở ngoài đó ba má và các em làm sao thấy hết được cuộc sống ở đây. Cuộc sống vô cùng anh dũng, vô cùng gian nan, chết chóc hy sinh còn dễ dàng hơn ăn một bữa cơm. Vậy mà người ta vẫn bền gan chiến đấu. Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc. Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc".
Và ngày cả dân tộc ca khúc ca khải hoàn đã không còn chị, những người thân yêu như quỵ ngã khi đọc lại nhật ký chị viết. Vậy là chị đã ra đi mãi mãi, nhưng hình bóng của chị vẫn sống mãi trong trái tim của mỗi chúng tôi, trong trái tim của triệu triệu người dân Viêt Nam. Chúng tôi nguyện cúi đầu tri ân sự hi sinh lớn lao của chị. Qua đây chúng tôi thêm khâm phục và biết ơn những anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc. Đồng thời, lời tâm sự này cũng như một lời nhắc nhở thế hệ trẻ chúng ta trong hôm nay: được sống ở thời bình, thời không còn phải nghe tiếng bom rơi đạn nổ, thời có nhiều điều kiện và cơ hội để phát triển và dựng xây Tổ quốc; vì vậy hãy sống làm sao cho xứng đánh với thế hệ cha anh, đừng “sống hoài, sống phí”.
Có thể nói, đoạn nhật ký nói riêng và cuốn Nhật ký giống như một thước phim đen trắng đã phơi bày nên sự tàn khốc, khó khăn của chiến tranh chống Mỹ. Tuy chỉ là những dòng chữ thôi nhưng đã đủ để cho ta cảm nhận được sự đau đớn, khắc nghiệt và nguy hiểm của quân và dân ta đã trải qua; cho ta cảm nhận được sự tàn phá, càn quét của Đế quốc Mỹ. Và cũng thông qua thực tế tàn khốc này này chúng tôi cũng nhìn thấy được sự hi sinh của các thanh niên xung phong, họ vẫn sẽ luôn sẵn sàng chiến đấu, cống hiến cho đất nước.
Với tôi, cuốn "Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm" không chỉ là tư liệu lịch sử quý giá, có giá trị văn học sâu sắc, mà trên tất cả, nó là kim chỉ nam, là lí tưởng sống của chính mình: Phải sống bằng cách ngẩng cao đầu, ngạo nghễ trước hàng vạn khó khăn. Dẫu biết “Đời phải trải qua giông tố nhưng chớ cúi đầu trước giông tố”. Đọc những dòng nhật kí của chị, bỗng chốc, con đường phía trước tôi đi mở dần ra. Tôi chợt nhận ra mình nợ Tổ quốc rất nhiều. Tôi nợ dòng máu chảy trong con người tôi là dòng máu do cha ông hi sinh mà có. Tôi nợ khao khát xây dựng đất nước độc lập phồn vinh mà triệu triệu người con Việt Nam còn chưa thành hiện thực mà phải nằm xuống nơi tuyến đầu. Tôi nợ chính mình lí tưởng đam mê cống hiến trong trang phục áo lính màu xanh. Tôi mong muốn được cống hiến sức mình cho Tổ quốc, được góp phần sức lực nhỏ bé của bản thân cho quê hương. Ước mơ cháy bỏng theo bước tôi đến trường, theo tôi ra rẫy cùng cha mẹ và lớn dần lên, rồi thành hiện thực. Tôi nhận giấy báo nhập học của Học viện KTQS sự trong niềm vui hân hoan của cả gia đình, bạn bè và người thân.
Hai năm được rèn luyện trong quân ngũ, bản thân tôi đã chín chắn và trưởng thành lên rất nhiều. Tôi luôn kiên định với lí tưởng và tình yêu mình đã chọn. Tôi nguyện làm một con người Việt Nam bé nhỏ nhưng sẽ luôn kiên cường viết tiếp trang sử hào hùng của dân tộc; luôn xung kích, sáng tạo, đi đầu trong công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; sẵn sàng đảm nhận công việc khó khăn, gian khổ, cấp bách khi Tổ quốc yêu cầu và thực hiện tốt các biện pháp đấu tranh với các âm mưu, hoạt động gây phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
Trần Quang Huy - Tiểu đoàn 3



