Nhật ký của Đặng Thùy Trâm
"Có những cuốn sách giúp ta biết thêm một nhân vật lịch sử. Có những cuốn sách khiến ta hiểu hơn giá trị của hòa bình. Nhưng cũng có những cuốn sách khiến trái tim ta rung động, để rồi từ đó biết sống đẹp hơn, biết yêu đất nước nhiều hơn. Với tôi, Nhật ký Đặng Thùy Trâm chính là một cuốn sách như thế."
Những ngày đầu hè, khi tiếng ve bắt đầu ngân vang và những chùm phượng đỏ rực nở khắp sân trường, tôi lại nhớ đến một cái tên thật đẹp – Mùa Hoa Lửa. Đó không chỉ là mùa của hoa phượng, mà còn là mùa của những năm tháng chiến tranh, khi biết bao người trẻ đã gửi lại tuổi xuân của mình cho Tổ quốc.
Tôi biết đến bác sĩ Đặng Thùy Trâm qua cuốn Nhật ký Đặng Thùy Trâm. Ban đầu, tôi chỉ nghĩ đây là một cuốn nhật ký của một nữ bác sĩ trong thời chiến. Nhưng càng đọc, tôi càng bị cuốn hút bởi từng dòng chữ giản dị mà chân thành. Sau đó, tôi tiếp tục tìm hiểu qua báo chí, các phóng sự truyền hình, những bài viết về chị và những nhân chứng từng sống, chiến đấu cùng chị. Mỗi tư liệu như một mảnh ghép, giúp tôi hình dung rõ hơn chân dung của một người con gái Hà Nội đã sống trọn vẹn vì lý tưởng.
Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại Huế, lớn lên ở Hà Nội trong một gia đình có truyền thống ngành y. Cha chị là bác sĩ ngoại khoa Đặng Ngọc Khuê, mẹ là giảng viên Đại học Dược Hà Nội. Được lớn lên trong môi trường đầy tình yêu thương và tri thức, Thùy Trâm sớm nuôi dưỡng ước mơ trở thành bác sĩ để chữa bệnh, cứu người.
Những bài báo tôi đọc đều nhắc đến hình ảnh một nữ sinh Trường Chu Văn An thông minh, giàu lòng nhân ái và có giọng hát rất hay. Sau đó, chị thi đỗ vào Đại học Y Hà Nội. Với thành tích học tập xuất sắc, chị hoàn toàn có thể ở lại giảng dạy hoặc làm việc tại một bệnh viện lớn ở Hà Nội. Nhưng giữa lúc đất nước còn chìm trong khói lửa chiến tranh, chị đã chọn con đường khó khăn nhất: tình nguyện vào chiến trường miền Nam.
Tháng 3 năm 1967, sau ba tháng hành quân vượt Trường Sơn, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đến Quảng Ngãi và được giao phụ trách bệnh xá Đức Phổ. Đó là nơi bom đạn diễn ra ác liệt từng ngày. Thuốc men thiếu thốn, điều kiện vô cùng gian khổ, nhưng chị cùng đồng đội vẫn ngày đêm cứu chữa thương binh và chăm sóc người dân.
Đọc những dòng nhật ký của chị, tôi như thấy hiện lên hình ảnh một nữ bác sĩ trẻ luôn chạy ngược xuôi giữa tiếng bom rơi, vẫn bình tĩnh băng bó vết thương cho đồng đội, vẫn động viên từng bệnh nhân bằng nụ cười ấm áp. Có những đêm thức trắng để mổ cấp cứu dưới ánh đèn dầu leo lét. Có những ngày phải di chuyển bệnh xá liên tục vì máy bay địch càn quét. Thế nhưng, trong những trang nhật ký ấy, tôi không thấy sự than vãn hay tuyệt vọng. Thay vào đó là một trái tim đầy yêu thương, luôn tin tưởng vào ngày đất nước thống nhất.
Qua những bài báo và bộ phim tài liệu về chị, tôi càng cảm phục nghị lực của người nữ bác sĩ ấy. Chị nhớ gia đình, nhớ Hà Nội, nhớ những con đường thân quen, nhưng chưa bao giờ nghĩ đến việc rời chiến trường. Trong nhật ký, chị nhiều lần nhắc đến đồng đội bằng tất cả sự yêu thương và trân trọng. Chị đau xót trước sự hy sinh của họ, nhưng cũng chính từ những mất mát ấy, chị càng thêm quyết tâm ở lại, tiếp tục cứu người.
Tôi đặc biệt xúc động khi đọc về chuyện tình đẹp nhưng dang dở của chị với người chiến sĩ mang bí danh M. – anh Khương Thế Hưng. Qua những dòng thư và nhật ký, tôi cảm nhận được một tình yêu rất đẹp, trong sáng nhưng luôn đặt Tổ quốc lên trên hạnh phúc riêng. Họ yêu nhau bằng sự cảm thông, bằng lý tưởng chung và bằng niềm tin vào ngày hòa bình. Chiến tranh đã không cho họ một cái kết trọn vẹn, nhưng tình yêu ấy vẫn còn sống mãi trong từng trang nhật ký.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trên đường từ vùng núi Ba Tơ trở về đồng bằng, bác sĩ Đặng Thùy Trâm đã anh dũng hy sinh trong một trận phục kích khi mới hai mươi bảy tuổi. Chị ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, nhưng những gì chị để lại thì vượt lên trên giới hạn của thời gian.
Điều khiến tôi xúc động nhất là hành trình kỳ diệu của hai cuốn nhật ký. Sau ngày chị hy sinh, một sĩ quan quân báo Mỹ là Frederic Whitehurst đã giữ lại cuốn sổ thay vì đốt bỏ. Ông kể rằng người phiên dịch Việt Nam đã nói với mình một câu khiến ông nhớ suốt đời: "Đừng đốt cuốn sổ này, trong đó đã có lửa."



