Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm
Nhật ký Đặng Thuỳ Trâm
t ai khi đọc những dòng thư của các liệt sĩ, cựu chiến binh trong cuốn sách này mà có thể cầm được nước mắt. Đó là những trang thư của liệt sĩ Vũ Hùng Ngọc, để buộc anh khai ra vị trí đóng quân của Bệnh viện 20 và Trường Quân chính Trà My, quân địch đã tra tấn anh bằng đủ mọi cực hình, và cuối cùng mang ra thiêu sống. Là những lá thư từ khi bắt đầu yêu, lấy vợ, sống và chiến đấu của Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú Tạ Lưu. Là lá thư của đồng chí Nguyễn Tiến Bộ, nguyên Phó trưởng Đoàn cán bộ quân sự của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, trong tổ liên hợp quân sự bốn bên, làm nhiệm vụ tại trại David, trong sân bay Tân Sơn Nhất, người đã có mặt tại Sài Gòn trong thời khắc lịch sử những ngày cuối tháng 4 năm 1975.
Ngoài những trang viết phơi phới lạc quan chiến thắng, đây đó ta còn bắt gặp cả những “nỗi buồn chiến tranh” những trang viết thấm đẫm nước mắt. Ta biết được đã có lúc người lính hoang mang vì rất có thể họ sẽ đón nhận những điều phũ phàng nhất do chiến tranh. Đang là sinh viên năm thứ 4 Đại học Xây dựng Hà Nội (1972), Lê Văn Huỳnh tình nguyện đi bộ đội và xung phong vào chiến trường đúng thời điểm Quảng Trị đang diễn ra những trận đánh ác liệt và đẫm máu nhất. Được lệnh đưa hàng qua sông Thạch Hãn, người chiến sĩ này hiểu rằng “đã sắp đến lượt mình” và anh bình thản tự làm một tấm tôn thay bia mộ, trên đó có khắc đủ họ tên, quê quán, năm sinh... rồi xé 10 trang giấy từ cuốn sổ tay viết sẵn bức thư cho gia đình, dặn dò mẹ già, vợ trẻ, anh chị, bố mẹ vợ và cả đứa cháu trai bé bỏng sau này lo việc thờ cúng hương khói cho mình... Hay là sự dặn dò ba mạ của người lính trẻ vừa 18 tuổi, Nguyễn Ngọc Tấn: “Nếu ngày chiến thắng đến mà con không về nữa thì mong ba mạ đừng buồn. Hãy nhìn lên lá cờ Tổ quốc, ba mạ sẽ thấy bóng hình con trong đó”.
Và có một nỗi sợ bao trùm lên nhiều người lính trẻ, đó là sự hèn nhát. Họ không ít lần phải “dặn lòng” mình. Trong bức thư của liệt sĩ Phan Đồng để lại: “Đại đội con nhiều đứa trốn về, con nhất định chẳng một lần làm thế. Trốn về chẳng những bôi nhọ danh dự bản thân mà còn cả danh dự gia đình. Con đã được tuyên dương ở đại đội. Biết là nhiều gian khổ, nhưng con sẽ vượt qua một cách chắc chắn”. Là những phút nhớ nhà của liệt sĩ Trần Cảnh Hùng hy sinh khi chưa đầy 17 tuổi: “Những lúc nằm không là những lúc con buồn và nhớ gia đình nhất. Có những đêm mắc tăng giữa rừng nằm một mình, nghe mưa rơi lộp độp trên tăng cảm thấy mình cô đơn vô cùng, nước mắt cứ trào ra”. Là nỗi đau khi một lần về thăm vợ và con gái, do chiến tranh in hằn trên gương mặt ông với những vết sẹo mà đứa con gái không chịu nhận ba. Rồi sự “thất hẹn” ngày trở về sum họp, để “cha mẹ sẽ lo cho con chuyện lớn” đã không thể thực hiện; là những niềm thương cho người vợ “đã 13 năm mà chỉ sống bên em may ra được 4 tháng"...
Bao nhiêu dòng thư là bấy nhiêu dòng tâm sự của những người con đã hiến dâng tuổi thanh xuân, hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, đất nước. Sống giữa làn mưa bom, bão đạn của kẻ thù nhưng những người chiến sĩ lại luôn nghĩ và lo cho người thân. Họ quên mình để an ủi động viên cha mẹ; lo hầm trú bom cả mẹ và các em ở nhà chưa đủ kiên cố, lo mẹ và các em không kịp xuống hầm khi máy bay bắn phá...
“Những lá thư thời chiến Việt Nam” hầu hết là thư của những chiến sĩ đã hy sinh. Những ngày tháng Bảy này, tri ân những Anh hùng liệt sĩ, lật giở gần 400 trang sách đọc những dòng thư in chữ nghiêng tôi không khỏi xúc động. Qua từng trang viết máu thịt ấy, ta có thể hình dung ra từng số phận con người, hiểu được phần nào quan niệm, lý tưởng, lẽ sống của một thế hệ, những người góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại của dân tộc.
Trong những năm tháng chiến tranh, từng lá thư, từng trang nhật ký trở thành cầu nối giữa tiền tuyến và hậu phương, là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm và mong ước hòa bình của người lính nơi chiến trườ



