“Nhật ký đời lính Trọng Tải”
Quân nhân Trần Trọng Tải, quê xóm 10, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn cũ, tỉnh Ninh Bình; nhập ngũ ngày 25/7/1966; huấn luyện tại Thanh Hóa; lên đường vào chiến trường ngày 11/11/1967; có khả năng thuộc Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 và tham gia chiến đấu tại mặt trận Khe Sanh đầu năm 1968. Quân nhân được phần thuyết minh ghi là Hoàng Trung Tải, có thể là chủ nhân cuốn sổ thứ hai; từng hoạt động tại các huyện Ngọc Lặc, Yên Định, Vĩnh Lộc và Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa trước khi hành quân qua Quảng Bình, sang Lào đầu tháng 01/1968.
Hồ sơ chứng tích chiến tranh mang mã số F034603381092 gồm 38 trang ảnh chụp hai cuốn sổ viết tay của bộ đội Việt Nam. Trên phiếu thẩm định tài liệu, phía Hoa Kỳ xác định hồ sơ có liên quan đến cán bộ, chiến sĩ thuộc Sư đoàn 304.
Tài liệu được thu giữ ngày 08/4/1968, tại tọa độ quân sự XD865385, trong Chiến dịch Pegasus. Đơn vị thu giữ được ghi là Đại đội A, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn Kỵ binh số 5, thuộc Sư đoàn Kỵ binh bay số 1 Hoa Kỳ. Đến ngày 15/4/1968, tài liệu được chuyển về Trung tâm Khai thác Tài liệu Hỗn hợp – CDEC để thẩm định.
Ngày 08/4/1968 cũng là thời điểm cuộc chiến đấu tại khu vực Khe Sanh vừa trải qua những ngày đặc biệt ác liệt. Giữa không gian bị bom đạn cày xới, hai cuốn sổ nhỏ của những người lính Việt Nam đã bị thu giữ. Không có thông tin trực tiếp cho biết tài liệu được tìm thấy trong hầm, trên trận địa, trong ba lô hay bên thi thể người lính. Vì vậy, chưa thể dùng hoàn cảnh thu giữ để kết luận số phận chủ nhân của chúng.Nhưng riêng việc những trang nhật ký xuất hiện tại tọa độ chiến trường đã cho thấy chúng từng đồng hành với người lính qua những tháng ngày hành quân, huấn luyện và chiến đấu. Cuốn sổ không phải một báo cáo được viết lại sau chiến tranh. Đó là lời kể được ghi ngay khi các sự kiện đang diễn ra, bằng nét chữ của người trong cuộc.
Gần sáu thập niên sau, nhà nghiên cứu Nguyễn Hồng Duy đã phát hiện Hồ sơ F034603381092 trong quá trình rà soát kho tư liệu phục vụ Dự án TTU-VWAI. Anh đang tiếp tục nghiên cứu, đối chiếu những trang viết tay với phần thuyết minh của CDEC, lịch sử đơn vị, địa danh và hồ sơ quân nhân trong nước.
Từ một mã số tưởng như chỉ dành cho hoạt động lưu trữ, chân dung một người lính quê Ninh Bình đang dần hiện lên.
2. Từ xóm 10, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình đến mặt trận Khe Sanh
Trên trang đầu cuốn sổ có dòng chữ: “Nhật ký đời lính Trọng Tải”. Ở một trang khác, người viết ghi rõ hơn: “Trần Trọng Tải – xóm 10, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn cũ, Ninh Bình.” Đây là đầu mối nhận dạng quan trọng nhất trong toàn bộ hồ sơ.
Theo phần thuyết minh của CDEC, cuốn nhật ký có những ghi chép từ ngày 25/7/1966 đến tháng 01/1968. Chủ nhân được xác định là binh nhì Trần Trọng Tải. Anh quê xóm 10, xã Yên Lộc, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình và nhập ngũ ngày 25/7/1966.
Ngày nhập ngũ cũng là mốc đầu tiên của cuốn sổ. Điều đó khiến nhật ký giống như một hành trang tinh thần mà người thanh niên Trần Trọng Tải tự chuẩn bị cho đời quân ngũ. Từ ngày rời quê, mỗi chặng đường, mỗi vùng đất và sự kiện đáng nhớ đều được anh ghi lại.
Đơn vị của Trọng Tải rời Ninh Bình vào Thanh Hóa. Những người lính mới dừng chân tại khu vực Tam Sơn khoảng bốn tháng để huấn luyện quân sự. Tết Nguyên đán năm 1967, anh đón năm mới tại Thanh Hóa, xa gia đình và quê hương lần đầu trong đời lính.Sau thời gian huấn luyện, đơn vị hoạt động tại huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Ngày 11/11/1967, đoàn quân rời Hà Trung lên đường vào chiến trường miền Nam. Từ một người con của vùng quê biển Kim Sơn, Trần Trọng Tải bắt đầu bước vào cuộc hành quân dài nhất của tuổi trẻ.
Cuốn nhật ký thứ hai trong hồ sơ ghi lại một hành trình tương đồng: từ tháng 9 đến tháng 11/1967, đơn vị huấn luyện tại các khu vực Ngọc Lặc, Yên Định, Vĩnh Lộc và Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa; tháng 12/1967 tập kết tại Quảng Bình; ngày 02/01/1968 đã đến đất Lào.
Những địa danh ấy giúp hình dung con đường hành quân của đơn vị: từ Thanh Hóa vào Quảng Bình, vượt sang tuyến đường Trường Sơn trên đất Lào rồi tiến về mặt trận phía tây Quảng Trị. Đó là con đường của núi cao, suối sâu, những bữa cơm vắt, những đêm ngủ võng giữa rừng và những trận bom có thể ập xuống bất cứ lúc nào.
Phần đầu cuốn nhật ký còn ghi phiên hiệu: Sư đoàn 304 – Trung đoàn 9 – Tiểu đoàn 3. Dòng chữ sau đó có thể là một mật danh hoặc địa chỉ liên lạc, hiện chưa được giải mã hoàn toàn. Tuy nhiên, các thông tin về phiên hiệu đơn vị, thời gian hành quân và địa bàn xuất hiện của kỷ vật có sự liên kết khá chặt chẽ với nhau.
Theo bản thuyết minh của CDEC, đơn vị của Trần Trọng Tải tham gia một trận đánh tại khu vực Khe Sanh vào đêm 19/01/1968. Những ghi chép cuối cùng cho biết người lính sống trong hầm ngầm tại cao điểm 383.
Chỉ một chi tiết “sống trong hầm ngầm” cũng đủ gợi ra hoàn cảnh của người lính trong những ngày chiến sự căng thẳng. Trên mặt đất là bom pháo, máy bay và những cuộc đọ sức dữ dội; dưới lòng đất là nơi bộ đội trú ẩn, sinh hoạt, chờ giờ xuất kích và tranh thủ ghi lại vài dòng nhật ký.
Có thể Trần Trọng Tải đã viết dưới ánh đèn dầu nhỏ, bên tiếng pháo dội và đất đá rung chuyển trên mái hầm. Anh không thể biết rằng vài tháng sau, cuốn sổ của mình sẽ rời khỏi chiến trường, bị đưa sang một hệ thống lưu trữ khác và phải mất gần 60 năm mới có cơ hội trở lại với người Việt Nam.
Điều hồ sơ chưa trả lời được là số phận của Trần Trọng Tải sau tháng 01/1968. Anh có tiếp tục chiến đấu tại Khe Sanh? Anh hy sinh, bị thương, mất tích hay đã trở về sau chiến tranh? Vì sao cuốn nhật ký bị thu giữ ngày 08/4/1968, trong khi những ghi chép được thuyết minh chỉ kéo dài đến tháng 01/1968?
Khoảng trống gần ba tháng ấy đang chờ hồ sơ trong nước, thân nhân và đồng đội của anh cùng góp phần giải đáp.



