Cựu chiến binh

Nhật ký hoa lửa ông Bùi Xuân Tước

Phú Thọ21/11/2025Bùi Văn Chính (Xóm Minh Tiến, xã lạc Lương)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ngày 4 tháng 5 năm 1972 – Bờ Bắc Thạch Hãn

Đêm qua vượt sông. Nước sông Thạch Hãn đen sẫm, ầm ì như thở gấp. Đơn vị tôi – tiểu đội trinh sát của C18 – theo đội hình mở đường cho đại đội. Đạn từ bờ Nam cày xới mặt nước như mưa rào. Tôi dặn anh em: “Cúi thấp, bám phao, giữ dây.”
Lần đầu sang chiến trường Quảng Trị mà thấy lòng ngột ngạt. Chiến tranh ở đây khác hẳn. Đất rung lên dưới chân, mùi thuốc súng và mùi bùn đất quyện vào nhau. Nhưng cũng kỳ lạ – càng gần trận địa, tôi càng bình tĩnh.

Ngày 10 tháng 6 năm 1972 – Cổ Thành

Trung đội được giao giữ một mỏm cao phía đông Cổ Thành. Đêm nào pháo cũng nện xuống như muốn nghiền nát tất cả. Mấy hôm trước thằng Lâm trong tiểu đội bị sức ép, tai ù đến giờ vẫn chưa nghe rõ. Tôi ngồi vá lại tăng, đưa mắt nhìn bức tường gạch Cổ Thành loang lổ phía xa – không nghĩ có ngày mình lại đứng giữa một nơi sau này thành huyền thoại.

Có lúc tôi tự hỏi: nếu mai mình không còn nữa, bố mẹ và mấy đứa em ở quê có biết rằng mình đã chiến đấu như thế nào không? Nhưng rồi tiếng anh em gọi nhau giao nhiệm vụ lại kéo tôi về thực tại. Ở đây, nghĩ nhiều không sống nổi.

Ngày 18 tháng 7 năm 1972 – Giao tranh ở Thành Cổ

Một ngày dài nhất từ khi vào chiến trường. Địch mở đợt phản kích từ sáng, pháo dập liên tục. Tiểu đội tôi cố giữ giao thông hào. Nắng cháy như than, khói lửa mù mịt. Anh em ngã xuống hai người: Hợi bị mảnh pháo, còn Hân – lính mới – hy sinh khi chạy tiếp đạn. Tôi ôm nó vào lòng, áo ướt đẫm. Nó còn quá trẻ…

Tôi ghi vào nhật ký: “Người ngã xuống để đồng đội bước tiếp. Phải sống thay phần của họ.”

Ngày 1 tháng 9 năm 1972 – Thạch Hãn vẫn đỏ

Cứ mỗi lần nhìn dòng nước đỏ ngầu bên dưới là tôi thấy nghẹn. Bao nhiêu đồng đội nằm lại trong lòng sông ấy. Đêm qua đại đội hành quân chuyển vị trí, tôi đi cuối hàng, vừa đi vừa nhớ những đêm vượt sông đầu tiên.
Chiến sự dai dẳng, kéo dài như không có hồi kết. Nhưng không ai cho phép mình nản. Lời chính trị viên vang lên trước lúc xuất quân vẫn còn nguyên: “Còn ta là còn thành cổ.”

Ngày 15 tháng 1 năm 1973 – Hoà đàm đến gần

Tin về đàm phán Paris lan nhanh. Ai cũng mừng nhưng vẫn cảnh giác. Địch vẫn pháo, vẫn lấn. Hôm nay tôi cùng mấy anh em đi thu gom lại đoạn giao thông hào bị sạt. Đất sụp xuống đầy dấu vết máu cũ. Tôi thở dài – chiến tranh tốn kém quá nhiều thứ, mà thứ mất nhiều nhất là con người.

Ngày 5 tháng 3 năm 1973 – Bên rìa Cam Lộ

Sau khi Hiệp định ký, chiến sự lắng hơn, nhưng nhiệm vụ thì không giảm. Chúng tôi chuyển sang bảo vệ khu vực, củng cố lực lượng. Đêm nằm trên võng, nghe tiếng gió Lào rít qua rừng mà nhớ nhà da diết.
Giá như chiến tranh sớm kết thúc để tôi được trở lại gặp bố mẹ, đưa mấy đứa em ra bờ sông câu cá như hồi bé.

Ngày 20 tháng 12 năm 1974 – Chuẩn bị cho mùa Xuân mới

F320 nhận lệnh tăng cường lực lượng, chuẩn bị cho những chiến dịch lớn. Không ai nói ra nhưng ai cũng biết: ngày toàn thắng đang đến gần.
Tiểu đội tôi huấn luyện suốt, bổ sung tân binh, chỉnh đốn đội hình. Tôi, một trung sỹ hai mươi mấy tuổi, bỗng thấy mình già đi hơn nhiều.

Ngày 26 tháng 3 năm 1975 – Chiến dịch tranh thủ tốc độ

Chúng tôi luồn rừng thần tốc. Tin quân ta giải phóng Huế, rồi Đà Nẵng, dội vào như lửa. Đất trời Quảng Trị chiều nay gió mạnh, bụi đỏ mịt mờ. Tôi cõng balô chạy mà lòng rạo rực – sắp đến ngày kết thúc rồi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn