Nhật Ký Thời Chiến: Tiếng Vọng Từ Trái Tim Người Lính Anh Hùng
Bài viết là hành trình xúc động ngược dòng thời gian, lần giở từng trang nhật ký nhuốm màu tháng năm của liệt sĩ Hồ Ngọc Anh. Qua lời kể của người cháu, câu chuyện khắc họa chân dung một người lính trẻ kiên cường, đầy nhiệt huyết, sẵn sàng hiến dâng tuổi thanh xuân và cả mạng sống cho Tổ quốc. Đồng thời, bài viết cũng là lời tri ân sâu sắc đến những thế hệ đã hy sinh vì hòa bình, nhắc nhở chúng ta về giá trị của tự do và trách nhiệm đối với quê hương.
Những vần thơ day dứt thuở nào, “Các anh đi, ngày ấy đã lâu rồi, xóm làng tôi còn nhớ mãi, các anh đi, bao giờ trở lại…”, vẫn vang vọng như tiếng lòng của bao thế hệ. Đó là nỗi nhớ, nỗi mong của người ở lại, là nỗi đau thấu nát tâm can khi người lính không thể trở về. Với tôi, đó còn là nỗi đau âm ỉ hòa lẫn niềm tự hào khôn xiết, bởi gia đình tôi, từ thế hệ ông bà, đều là những người lính anh dũng, kiên cường. Tôi lớn lên trong thời bình, không chứng kiến khói lửa chiến tranh, nhưng dường như tôi đã “sống trong chiến tranh” một cách khác – qua những câu
chuyện kể của ngoại, của mẹ, và đặc biệt hơn cả, qua cuốn nhật ký của ông tôi – liệt sĩ Hồ Ngọc Anh.
Gần 50 năm trôi qua, cuốn nhật ký đã bạc màu thời gian, những nét mực thân thương đã in nhòe đi phần nào. Thế nhưng, mỗi khi lật giở từng trang, tôi vẫn vẹn nguyên cảm xúc nghẹn ngào, niềm tự hào vô bờ bến. Ông tôi, Hồ Ngọc Anh, sinh năm 1955 tại xã Sơn Trạch, Bố Trạch (nay thuộc xã Phong Nha, tỉnh Quảng Trị). Năm 1971, ông nhập ngũ, biên chế vào C15, lực lượng bộ đội đặc công Quân khu 4. Đến năm 1973, ông được cử đi học tại Trường Kỹ thuật Thông tin Hiệp Hòa (Hà Bắc). Cùng với em trai ruột là ông Hồ Ngọc Dũng và nhiều sinh viên khác, khi chiến dịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn cao điểm, ông được điều động vào thành phố Vũng Tàu để tiếp quản hệ thống thông tin liên lạc của địch và tiếp tục chương trình học. Năm 1977, ông tốt nghiệp xuất sắc, được giữ lại trường làm công tác giảng dạy. Nhưng với tinh thần anh dũng, ông khao khát được trực tiếp tham gia công tác tại các đơn vị chiến đấu, nên đã được điều về Quân khu 5.
Cuối năm 1977, ông cùng đồng đội lên đường đóng quân tại Tây Ninh, khi chiến trường Tây Nam đang ở giai đoạn căng thẳng. Cũng chính trong khoảng thời gian này, ông bắt đầu viết nhật ký – những dòng chữ trở thành minh chứng sống động cho những tháng ngày nơi chiến trận của ông và đồng đội. Ngày 16/12/1977, với nhiệt huyết tuổi đôi mươi, với ý chí và tình yêu nước lớn lao, ông đối mặt với gian khổ chiến trường bằng tâm thế nhẹ nhàng, sẵn sàng cống hiến. Ông viết: “Chúng tôi nhận nhiệm vụ đi phục vụ chiến đấu ở biên giới. Thật là sôi nổi, thật là nhẹ nhàng của một người lính khi đi xa. Gần 12 giờ, chúng tôi có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất, nghỉ ít phút là chúng tôi lại lên xe về Tây Ninh luôn…”. Dù xa gia đình, người thân, bạn bè, ông vẫn cảm nhận được sự ấm áp, thân thuộc như đang sống trong một gia đình. Có những hôm, trước trận đánh, ông luôn đi trước để chuẩn bị hệ thống thông tin, hoàn thành nhiệm vụ trở về đơn vị, được thủ trưởng tuyên dương và tự tay dọn cơm. Giữa những tháng ngày tàn khốc của chiến trận, ông cũng như bao người lính khác, được tiếp thêm nguồn động lực từ niềm tin yêu của người dân nơi biên giới: “Sáng nay trên đường hành quân, tôi bắt gặp nhiều cảnh tượng và ánh mắt khiến tôi vô cùng xúc động. Mọi người thấy chúng tôi trên xe đi vào nơi biên giới xảy ra chiến sự, đã gửi theo nhiều ánh nhìn lưu luyến. Tôi cảm nhận được những cái nhìn gần gũi, thân thiện…”.
Ngày 23/12/1977, nhật ký ghi lại: “Chiến dịch bắt đầu từ 6 giờ sáng ngày 22-12-1977. Hướng ở đây là hướng chính. 7 giờ quân ta đã làm chủ toàn bộ chiến trường và bao vây, gọi địch đầu hàng. Ngày 23 ta bắt được 128 binh lính. Chúng tôi rất phấn khởi khi nghe tin chiến sự, nó củng cố lòng tin cho chúng tôi, động viên chúng tôi trên mặt trận không tiếng súng để hoàn thành nhiệm vụ…”.
Năm 1978, nhiệm vụ của ông và những người lính thông tin càng trở nên nặng nề hơn. Chiến sự ở biên giới Tây Nam ngày càng ác liệt khi quân Pôn Pốt tăng cường lực lượng, áp sát biên giới, tiến hành hàng loạt hoạt động gây hấn và tàn sát người dân. Họ phải chuẩn bị đường dây liên lạc kịp thời trước mỗi trận đánh, vừa làm nhiệm vụ vừa phải theo dõi lính Pôn Pốt rình rập, phục kích, đối mặt với cái chết cận kề. Cuốn nhật ký trở thành người bạn đồng hành, ghi lại
những tin tức về trận đánh kinh hoàng, những nỗi nhớ, tình yêu tha thiết gửi về gia đình và đặc biệt là nỗi da diết dành cho bà Nguyễn Thị Phương Hồng, một giáo sinh sư phạm, người con gái đã nên duyên với ông trước lúc ra trận.
Và cuốn nhật ký – người bạn, người đồng hành ấy – đã không kịp đi cùng ông qua năm 1978… Tháng 6⁄1978, như bao lần thực hiện nhiệm vụ khác, ông cùng đồng đội lên đường chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Campuchia. Tháng 11⁄1978, sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trên đường trở về, ông bị quân Pôn Pốt phục kích và ngã xuống nơi chiến trường. Ông hy sinh khi gia đình đang dự định tổ chức lễ kết hôn vào dịp Tết, nhưng đám cưới mong đợi ấy đã không bao giờ diễn ra. Những lời kể của ông Dũng, em trai ông, với nỗi nghẹn ngào, xót xa, với hai hàng nước mắt lăn dài, khiến cả người kể lẫn người nghe đều không kìm được xúc động. Ông ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ. Bom đạn xuyên qua ông cũng xuyên qua những trái tim tan nát của những người ở lại, đặc biệt là mẹ ông. Bà khóc mãi đến khi mù lòa cả hai mắt.
Suốt bấy nhiêu năm qua, nỗi đau, nỗi mất mát ấy chưa bao giờ ngừng cọ xát vào tim gan của những người còn ở lại: những đồng đội sống sót, những người thân, bạn bè, và cả những con người đi sau như tôi. Vượt lên trên nỗi đau xót ấy là niềm tự hào, niềm xúc động không ngừng
mỗi khi nhắc đến ông. Gia đình tôi biết ơn sâu sắc sự quan tâm từ chính quyền địa phương, và hơn cả là tình cảm thiêng liêng từ những người đồng đội của ông. Đặc biệt, ông Đặng Ngọc Nọi là người đã mang những kỷ vật của ông về với gia đình tôi, trong đó có cuốn nhật ký. Dù bận rộn, ông Nọi không ít lần có mặt trong ngày giỗ của đồng đội mình. Trong một lần về giỗ, ông đã viết một bài thơ tặng bạn. Bài thơ được thì thầm đọc trước ông tôi, và gia đình tôi trân trọng những tâm tư sâu kín ấy giữa hai người, nên bài thơ vẫn còn nằm nguyên trên bàn thờ của ông.
Sự hy sinh anh dũng của ông không chỉ là nỗi đau xót, mất mát, không chỉ là niềm tự hào khôn xiết, mà còn là một tấm gương với bao phẩm chất cao quý để tôi, để thế hệ trẻ, để những con người tiếp bước noi theo. Đó là tấm gương về sự anh dũng, về tấm lòng tận tụy, về trách nhiệm với nhiệm vụ của mình. Ông mong muốn hiến dâng cả những ngày tháng tươi đẹp nhất của đời người, hiến dâng toàn bộ sức lực, tài năng, thậm chí là cả mạng sống của mình cho đất nước. Ông đặt tình yêu nước lên trên cùng, lên



