Cựu chiến binh

Nhật ký thời hoa lửa – Người lính Nguyễn Khắc Trị

Phú Thọ23/11/2025Bùi Văn Tuấn (Xóm Đội 2, Lạc Lương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

háng 3 năm 1973 – Bước chân đầu tiên vào Đức Huệ

Đất Đức Huệ nắng rát như đổ lửa. Cỏ lau ven kênh đập vào chân rát buốt. Đơn vị tôi hành quân dọc kênh Vàm Cỏ Đông, phía xa là những căn cứ địch còn gài mìn, bãi chông.
Chỉ huy nói:
“Biên giới Tây Nam là thử thách thật sự của người lính.”

Đêm đầu trực chiến, tiếng côn trùng kêu đến rợn người. Bọn địch thỉnh thoảng nã pháo vu vơ từ phía bót Lộ 11, nhắc chúng tôi rằng vùng này chưa bao giờ yên.

Tháng 5 năm 1973 – Canh giữ hành lang Đức Huệ

Nhiệm vụ của đại đội là giữ tuyến hành lang từ Đức Huệ sang Đức Hòa, nơi ta đưa thương binh, khí tài và chuyển tin.
Ban ngày tránh càn, ban đêm đào công sự. Đất phèn trắng bóc, đào một hố chiến đấu phải đổi tay tới tê dại.
Nhưng anh em vẫn động viên nhau:
“Đất này càng khó thì mình phải càng giữ.”

Có những đêm hành quân xuyên kênh, nước lạnh đến thấu xương. Trên đầu là pháo sáng treo lơ lửng, dưới chân là bùn lầy dai nghịt.

Tháng 8 năm 1973 – Chạm trán ở vàm Rạch Gốc

Buổi chiều, đơn vị vừa cơ động vào bìa rừng thì trinh sát báo có tổ địch luồn lách qua Rạch Gốc.
Tiếng súng bùng lên rất nhanh. Tôi cùng tổ 3 chiếm ụ bờ mương, bắn chặn hướng rút lui của địch.
Trận này diễn ra chớp nhoáng nhưng ác liệt. Ta tiêu diệt được toán địch, nhưng cũng mất một đồng chí của trung đội.
Chúng tôi khiêng anh qua cánh đồng mía chiều hoàng hôn—gió thổi rào rạt mà lòng nặng trĩu.

Tháng 11 năm 1973 – Ngày mưa trên đồng phèn Đức Huệ

Mưa miền Tây bất chợt lắm. Đang đào công sự thì cơn mưa xối như thác, đất phèn tan thành nước đục ngầu.
Hầm chiến đấu sập xuống, anh em phải ngồi cả đêm tát nước.
Đói, rét, muỗi cắn… nhưng không ai than một lời.

Tôi viết vào nhật ký:
“Chiến trường rèn người lính mạnh mẽ hơn, nhưng cũng làm trái tim mình biết thương đồng đội đến lạ.”

Đầu 1974 – Trận đánh đêm tại kênh Thầy Cai

Đêm 22/1, địch càn mạnh vào khu vực kênh Thầy Cai. Chúng dùng pháo sáng soi trắng cả đồng ruộng.
Tiểu đội tôi được lệnh vòng trái, đánh chặn đường tiếp viện của chúng. Bùn lầy níu chân, tiếng đạn rít qua đầu từng luồng.

Khi chúng áp sát, tôi kéo cò B40—tiếng nổ vang trời làm cả bãi cỏ rung lên.
Địch lùi, ta giữ được trận địa.
Sau trận đánh, anh Được—trung đội phó—vỗ vai tôi:
“Trị gan lắm! Đức Huệ có những thằng lính như mày thì không lo.”

Tôi chỉ cười, nhưng trong lòng thấy ấm lạ thường.

Tháng 7 năm 1974 – Bám trụ vùng giáp biên

Ta phải giữ từng kênh, từng bờ ruộng. Địch thường xuyên đưa biệt kích sang quấy phá.
Nhiều hôm trời nóng trên 38 độ, áo tôi ướt mồ hôi cả ngày, còn đêm thì lạnh thấu xương vì sương biên giới.
Anh em nằm ngay dưới những tán tràm thấp, muỗi bay kín cả màn.

Vậy mà ai cũng kiên cường.
Bởi chúng tôi biết:
Giữ Đức Huệ là giữ cửa ngõ bảo vệ Long An và hành lang cho toàn chiến trường miền Nam.

Đầu 1975 – Từng ngày chờ tổng tiến công

Tin chiến thắng từ Tây Nguyên, Huế, Đà Nẵng truyền về. Cả đơn vị háo hức nhưng vẫn cảnh giác.
Những đêm trực chiến, tôi ngồi lưng chừng bờ ruộng, nghe tiếng gió thổi qua đồng cỏ mà lòng bồn chồn.
Anh em bàn nhau:
“Không biết ngày giải phóng miền Nam, mình đang ở đâu nhỉ?”

Tôi thì nghĩ đơn giản:
“Còn thằng nào đứng được thì còn chiến đấu.”

Tháng 4 năm 1975 – Đức Huệ hòa vào tiếng reo chiến thắng

Khi chiến dịch Hồ Chí Minh bắt đầu, đơn vị tôi phối hợp đánh chiếm một số chốt chặn, mở đường cho lực lượng chủ lực tiến về hướng đông.
Ngày 30/4, trời Đức Huệ đẹp lạ thường. Những hàng thốt nốt đứng im như lắng nghe tin vui từ Sài Gòn.
Khi chỉ huy công bố:
“Sài Gòn giải phóng rồi!”
Anh em ôm nhau, có người khóc như trẻ nhỏ.

Tôi mở cuốn nhật ký, viết nghẹn ngào:

“Nguyễn Khắc Trị – K1, D7, E3, F5.
Đã cùng đồng đội giữ từng bờ kênh, từng cánh đồng Đức Huệ để đón ngày non sông liền một dải.
Chiến tranh kết thúc. Tuổi hai mươi của chúng tôi nằm lại nơi này.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn