Bài viết

Nhật ký từ chiến trường Tây Nam

Quảng Trị29/12/2025Đoàn Trường THPT Chuyên Võ Nguyên Giáp (Đoàn phường Đồng Hới)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

“Các anh đi
Ngày ấy đã lâu rồi
Xóm làng tôi còn nhớ mãi
Các anh đi
Bao giờ trở lại…”
Ngày người lính lên đường ra chiến trận - ngày người ở lại mang một nỗi nhớ, nỗi mong, ngày người lính không thể trở về - ngày người ở lại thấu nát tâm can…Đó cũng là nỗi đau âm ỉ xen lẫn nỗi tự hào biết bao của chính tôi, của chính gia đình tôi khi thế hệ ông bà của tôi đều là những người lính anh dũng, kiên cường, bất khuất. Tôi lớn lên trong thời bình, không chứng kiến khói lửa, chưa từng tận mắt nhìn thấy sự khốc liệt của chiến tranh nhưng tôi như được “sống trong chiến tranh” bằng một cách khác, bằng những câu chuyện kể của ngoại, của mẹ, mà đặc biệt hơn hết là qua cuốn nhật ký của ông tôi - liệt sĩ Hồ Ngọc Anh để lại.
Gần 50 năm trời trôi qua, cuốn nhật ký đã bị dấu ấn thời gian in nhòe nét mực, giở những trang nhật ký với nét chữ thân thương ấy, chưa bao giờ tôi ngừng xúc động nghẹn ngào, chưa bao giờ tôi vơi bớt đi niềm tự hào vô tận. Ông tôi sinh năm 1955, tại xã Sơn Trạch, Bố Trạch (nay thuộc xã Phong Nha, tỉnh Quảng Trị), ông lên đường nhập ngũ vào năm 1971, biên chế vào C15, thuộc lực lượng bộ đội đặc công Quân khu 4 lúc bấy giờ. Năm 1973, ông được cử đi học tại Trường kỹ thuật thông tin Hiệp Hoà (Hà Bắc). Ông và ông Hồ Ngọc Dũng (sinh năm 1956 cũng là em trai ruột của ông) cùng nhiều sinh viên khác khi chiến dịch Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn cao điểm được điều động vào thành phố Vũng Tàu để tiếp quản hệ thống thông tin liên lạc của địch và học tiếp chương trình cho đến năm 1977 thì ra trường. Ông tốt nghiệp xuất sắc, được giữ lại trường làm công tác giảng dạy nhưng với tinh thần anh dũng ông mong muốn được trực tiếp tham gia công tác tại các đơn vị nên được điều về Quân khu 5. Vào cuối năm 1977, ông cùng đồng đội mình lên đường và đóng quân tại Tây Ninh khi chiến trường Tây Nam ở giai đoạn căng thẳng và cũng chính khoảng thời gian này, ông bắt đầu viết nhật ký - minh chứng còn sót lại từ những tháng ngày nơi chiến trận của ông cùng đồng đội. Ngày 16/12/1977, với cái nhiệt huyết của tuổi đôi mươi, của tuổi trẻ, của ý chí, của tình yêu nước lớn lao ông đối mặt với những gian khổ nơi chiến trường bằng tâm thế nhẹ nhàng, bằng sự sẵn sàng cống hiến, ông viết: “Chúng tôi nhận nhiệm vụ đi phục vụ chiến đấu ở biên giới. Thật là sôi nổi, thật là nhẹ nhàng của một người lính khi đi xa. Gần 12 giờ, chúng tôi có mặt tại sân bay Tân Sơn Nhất, nghỉ ít phút là chúng tôi lại lên xe về Tây Ninh luôn...". Dẫu xa gia đình, người thân, bạn bè ông vẫn mang cảm giác ấm áp, thân thuộc như đang sống trong một gia đình khi có những hôm trước trận đánh, hoàn thành nhiệm vụ là luôn đi trước để chuẩn bị hệ thống thông tin phục vụ chiến dịch, trở về đơn vị và được thủ trưởng đơn vị tuyên dương và tự tay dọn cơm. Giữa những tháng ngày tàn khốc của chiến trận, ông cũng như bao người lính khác được tiếp thêm nguồn động lực bằng niềm tin yêu của những người dân nơi biên giới "Sáng nay trên đường hành quân, tôi bắt gặp nhiều cảnh tượng và ánh mắt khiến tôi vô cùng xúc động. Mọi người thấy chúng tôi trên xe đi vào nơi biên giới xảy ra chiến sự, đã gửi theo nhiều ánh nhìn lưu luyến. Tôi cảm nhận được những cái nhìn gần gũi, thân thiện..."
Ngày 23-12-1977, nhật ký viết: "Chiến dịch bắt đầu từ 6 giờ sáng ngày 22-12-1977. Hướng ở đây là hướng chính. 7 giờ quân ta đã làm chủ toàn bộ chiến trường và bao vây, gọi địch đầu hàng. Ngày 23 ta bắt được 128 binh lính. Chúng tôi rất phấn khởi khi nghe tin chiến sự, nó củng cố lòng tin cho chúng tôi, động viên chúng tôi trên mặt trận không tiếng súng để hoàn thành nhiệm vụ...".
Nhiệm vụ của ông, của những người lính thông tin nặng nề hơn vào năm 1978, khi chiến sự ở biên giới Tây Nam ngày càng ác liệt khi quân Pôn Pốt tăng cường lực lượng quân sự, áp sát biên giới, tiến hành hàng loạt hoạt động gây hấn và tàn sát người dân nơi đây, khi họ phải chuẩn bị đường dây liên lạc kịp thời trước những trận đấu, khi vừa phải làm nhiệm vụ vừa phải theo dõi lính Pôn Pốt rình rập, phục kích, cũng là khi đối diện với cái chết rất cận kề, ông coi cuốn nhật ký với tin về những trận đấu kinh hoàng, với nỗi nhớ, tình yêu tha thiết gửi về cho những người thân trong gia đình tôi, với nỗi da diết với bà Nguyễn Thị Phương Hồng, một giáo sinh sư phạm, người con gái nên duyên với ông trước lúc ra trận là người bạn, người đồng hành.
Và cuốn nhật ký - người bạn, người đồng hành ấy chưa kịp đi qua cùng ông năm 1978…Tháng 6/1978, cũng như bao lần thực hiện nhiệm vụ khác, ông cùng đồng đội làm nhiệm vụ để chuẩn bị cho chiến dịch giải phóng Campuchia, vào tháng 11/1978 sau khi hoàn thành nhiệm vụ, trên đường trở về ông bị quân Pôn Pốt phục kích, ông ngã xuống nơi chiến trường…Ông hy sinh khi “gia đình dự định tổ chức lễ kết hôn cho ông vào dịp Tết, nhưng rồi, đám cưới được mong đợi ấy đã không bao giờ diễn ra”...Những lời được ông Dũng kể lại, với nỗi nghẹn ngào, xót xa, với hai hàng nước mắt lăn dài cũng người kể lẫn người nghe…Ông ra đi khi tuổi đời còn rất trẻ, bom đạn xuyên qua ông cũng xuyên qua những trái tim tan nát của những người ở lại, mà đặc biệt là đối với mẹ ông, ngày nhận được tin dữ, bà khóc mãi đến khi mù lòa cả hai mắt…
Trong suốt bấy nhiêu năm qua, nỗi đau, nỗi mất mát ấy chưa bao giờ ngừng cọ xát vào tim, vào gan của những người còn ở lại, những người đồng đội còn sống, những người thân, bạn bè, những con người đi sau như tôi…Vượt lên trên cả nỗi đau xót ấy là niềm tự hào, niềm xúc động không ngừng mỗi khi nhắc đến. Gia đình tôi biết ơn sâu sắc khi nhận được sự quan tâm từ chính quyền địa phương, hơn cả là tình cảm thiêng liêng từ những người đồng đội của ông, đặc biệt trong đó là ông Đặng Ngọc Nọi là người mang những kỷ vật của ông về với gia đình tôi trong đó có cuốn nhật kí, dù bận rộn không ít lần ông có mặt trong ngày giỗ của đồng đội mình, trong một lần về giỗ, ông đã viết một bài thơ tặng bạn, bài thơ được thì thầm đọc trước ông tôi, và gia đình tôi trân trọng những tâm tư sâu kín ấy giữa hai người nên bài thơ vẫn còn nằm nguyên trên bàn thờ của ông.
Sự hy sinh anh dũng của ông, không chỉ dừng lại là một nỗi đau xót, mất mát, không chỉ là một niềm tự hào khôn xiết mà đó còn là một tấm gương với bao phẩm chất cao quý để tôi, để thế hệ trẻ, để những con người tiếp bước noi theo. Là tấm gương về sự anh dũng, về tấm lòng tận tụy, về trách nhiệm với nhiệm vụ của mình, ông mong muốn được hiến dâng cả những ngày tháng tươi đẹp nhất của đời người, hiến dâng toàn bộ sức lực, tài năng, thậm chí là cả mạng sống của mình cho đất nước, ông đặt tình yêu nước lên trên cùng, lên trên tình thân gia đình, lên trên tình yêu đẹp đẽ trong sáng của đôi lứa, không phải là người lính không tiếc, “Nhưng ai cũng tiếc tuổi hai mươi thì còn chi Tổ quốc?”. Bên cạnh đó còn là bài học về tinh thần lạc quan trước nghịch cảnh của cuộc sống, về niềm tin vào một tương lai tươi sáng, tốt đẹp hơn. Tôi mong muốn chia sẻ câu chuyện này trước hết là để bày tỏ nỗi nhớ thương, nỗi xót xa đồng thời là sự biết ơn đối với ông tôi - liệt sĩ Hồ Ngọc Anh cũng như đối với những người lính quả cảm kiên cường, xả thân mình chiến đấu giữa mưa bom bão đạn. Đồng thời, tôi hi vọng câu chuyện này khi đi qua sẽ lưu lại nơi tâm hồn của những người đọc được một thứ cảm xúc nào đó, có thể là nỗi xót xa, nỗi biết ơn như tôi có…Để họ biết được, hòa bình ngày hôm nay được đánh đổi bằng xương, bằng thịt, bằng máu của những người đi trước, để họ thêm trân trọng, để họ thêm nhận thức về trách nhiệm của mình đối với quê hương, đối với đất nước qua những điều “đốt mãi chẳng thành tro”.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn