Nhật ký từ cửa hầm bí mật: Huyền thoại nhà văn – chiến sĩ Chu Cẩm Phong nơi chảo lửa Quảng Đà
"Trong lịch sử văn học cách mạng Việt Nam, hiếm có trang viết nào thấm đẫm mùi thuốc súng, chất chứa hơi thở sinh tử và sáng ngời khí phách như những dòng nhật ký của Chu Cẩm Phong. Chàng sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội gác lại con đường nghiên cứu văn chương êm ả để xẻ dọc Trường Sơn về lại quê hương Quảng Nam rực lửa, biến chiếc bút máy và cuốn sổ tay thành vũ khí sắc bén nơi tuyến đầu diệt Mỹ. Liệt sĩ, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, nhà văn Chu Cẩm Phong không đứng ngoài để quan sát cuộc chiến; anh sống trọn vẹn, chiến đấu kiên cường và ngã xuống như một dũng sĩ thực thụ ngay tại cửa hầm bí mật khi trang nhật ký cuối cùng còn chưa ráo mực."
Từ giảng đường Tổng hợp đến tuyến lửa quê hương
Chu Cẩm Phong tên thật là Trần Tiến (sinh ngày 12 tháng 8 năm 1941 tại Hội An, tỉnh Quảng Nam) – vùng đất của những dòng sông kiên cường, nơi nuôi dưỡng những tâm hồn vừa mẫn cảm thi ca vừa quật khởi đánh giặc:
Sau Hiệp định Genève năm 1954, anh cùng gia đình tập kết ra Bắc, học tập tại các trường học sinh miền Nam rồi thi đỗ vào Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (khóa 1960 – 1964).
Tốt nghiệp đại học với kết quả xuất sắc, trong lúc có thể chọn con đường giảng dạy hoặc nghiên cứu tại Thủ đô, người thanh niên xứ Quảng đã kiên quyết làm đơn tình nguyện xin trở lại miền Nam chiến đấu, mang theo hành trang duy nhất là ngọn lửa tri ân với mảnh đất chôn nhau cắt rốn.
Năm 1964, Trần Tiến vượt Trường Sơn trở về chiến trường Khu 5, công tác tại Ban Tuyên huấn Khu ủy, sau đó làm phóng viên Thông tấn xã Giải phóng và chuyển sang Tiểu ban Văn nghệ Khu 5 (Hội Văn nghệ Giải phóng miền Trung Trung Bộ), lấy bút danh Chu Cẩm Phong.
Cây bút sinh ra từ lòng chiến hào
Với Chu Cẩm Phong, viết văn không thể tách rời sự dấn thân vào sinh tử. Anh quan niệm sâu sắc: Muốn viết được về người chiến sĩ và nhân dân đánh giặc, nhà văn phải là người trong cuộc, phải cùng ăn củ sắn lùi, cùng chịu sốt rét rừng và cùng ghìm súng trong chiến hào với bộ đội, du kích.
Bám trụ vành đai diệt Mỹ: Suốt từ năm 1964 đến 1971, bước chân của anh in khắp các trọng điểm ác liệt nhất của chiến trường Quảng Đà, Quảng Nam, Duy Xuyên, Điện Bàn – nơi lính thủy đánh bộ Mỹ và các sư đoàn ngụy mở hàng ngàn cuộc càn quét "tìm diệt" và "bình định nông thôn".
Những trang viết đẫm chất sống: Giữa những đợt phi pháo dập vùi, ngồi dưới miệng giao thông hào hay trong căn lán ẩm mốc rơm rạ, Chu Cẩm Phong miệt mài ghi chép. Những truyện ký, phóng sự xuất sắc như Mặt biển – Mặt trận, Rừng thâm, Xa quê hương và đặc biệt là cuốn ký sự dài Mẹ Ngọc ra đời, trở thành bức chân dung chân thực, sống động và xúc động bậc nhất về cuộc chiến tranh nhân dân kiên cường đất Quảng Nam – Đà Nẵng.
Cuốn nhật ký chiến trường vô giá: Bên cạnh các tác phẩm văn xuôi, cuốn Nhật ký Chu Cẩm Phong ghi chép từ năm 1967 đến những ngày tháng 5/1971 đã trở thành một chứng tích lịch sử – văn học đồ sộ. Từng câu chữ không hề bi lụy, mà lấp lánh lý tưởng sống cao đẹp, tình yêu con người tha thiết và niềm tin tuyệt đối vào ngày toàn thắng.
Trận chiến sinh tử và sự hy sinh kiêu hãnh dưới chân đồi Quế Sơn
Mùa xuân năm 1971, chiến trường Quảng Đà bước vào giai đoạn thử thách nghiệt ngã khi đối phương ồ ạt dùng xe bọc thép, trực thăng và pháo binh cày xới từng tấc đất nhằm xóa sổ cơ sở cách mạng vùng sâu. Chu Cẩm Phong cùng tổ công tác của Tiểu ban Văn nghệ Khu 5 vẫn kiên cường bám trụ tại xã Xuyên Phú (nay thuộc huyện Duy Xuyên, Quảng Nam).
Ngày 1 tháng 5 năm 1971, trong một đợt càn quét quy mô lớn của quân ngụy Sài Gòn, căn hầm bí mật của Chu Cẩm Phong cùng các đồng chí bị chỉ điểm và bao vây.
Quân địch phát hiện cửa hầm, bắc loa kêu gọi chiêu hồi hòng bắt sống nhà văn và tổ công tác. Đáp lại lời dụ dỗ đê hèn là sự im lặng kiên quyết và những loạt đạn đanh thép từ dưới hầm bắn ngược lên.
Cuộc chiến đấu không cân sức diễn ra vô cùng ác liệt suốt nhiều giờ đồng hồ. Dưới làn hơi cay và lựu đạn đối phương ném xuống miệng hầm, Chu Cẩm Phong cùng đồng đội vẫn kiên cường điểm hỏa đẩy lùi các đợt áp sát của giặc, quyết tâm bảo vệ tài liệu và khí tiết cách mạng.
Khi viên đạn cuối cùng rời nòng súng ngắn, Chu Cẩm Phong anh dũng ngã xuống ngay tại cửa hầm bí mật vào trưa ngày 1 tháng 5 năm 1971. Năm ấy, anh vừa tròn 30 tuổi.
Trang nhật ký cuối cùng của anh dừng lại vào ngày 27 tháng 4 năm 1971, chỉ 3 ngày trước khi bước vào trận đánh sinh tử. Từng dòng chữ viết vội vẫn rực cháy niềm lạc quan và khát khao sáng tác cho quê hương.
Sự tôn vinh và tượng đài bất tử của người trí thức cầm súng
Sự hy sinh của nhà văn Chu Cẩm Phong là một tổn thất vô cùng to lớn cho nền văn học cách mạng miền Nam thời chống Mỹ, nhưng cuộc đời và tác phẩm của anh đã trở thành biểu tượng mẫu mực cho tinh thần hiến dâng vô điều kiện của người cầm bút.
Năm 2010, Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký quyết định truy tặng Liệt sĩ, nhà văn Chu Cẩm Phong danh hiệu cao quý nhất: Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Anh là một trong số rất ít những nhà văn quân đội được vinh danh đồng thời cả hai giải thưởng danh giá bậc nhất:
Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2010);
Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật (năm 2007) cho các tác phẩm truyện ngắn và cuốn Nhật ký Chu Cẩm Phong.
Tên của nhà văn Chu Cẩm Phong ngày nay đã được đặt cho các trường học và đường phố tại thành phố Đà Nẵng, thành phố Tam Kỳ và thành phố Hội An quê hương anh. Cuộc đời 30 năm ngắn ngủi nhưng rực rỡ như một vì sao băng của Chu Cẩm Phong đã minh chứng cho chân lý: Người nghệ sĩ chân chính trước hết phải là một người công dân kiên cường, dám lấy chính cuộc sống và máu xương của mình để viết nên những trang văn bất tử cùng dân tộc.


