Khác

Nhiệm vụ đặc biệt (1)

Tập hồi kỷ “Nhiệm vụ đặc biệt” của Thiếu tướng Nguyễn Tư Cường, nguyên Tư lệnh bộ đội Đặc công, được Nhà xuất bản Quân đội nhân dân xuất bản lần đầu vào tháng 3 năm 1987 nhân kỷ niệm lần thứ 20 ngày thành lập binh chủng Đặc công (3.1967- 3.1987). Mười lăm năm đã trôi qua, binh chủng Đặc công Quân đội Nhân dân Việt Nam đã bước vào tuổi 35. Chiến công nối tiếp chiến công đã tạo nên huyền thoại về một binh chủng đặc biệt tinh nhuệ, như lời Bác Hồ đã từng chỉ thị khi thành lập binh chủng (n

Lai Châu03/07/2026Quân đội nhân dân (xã sìn hồ)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Những ngày khởi đầu

I

Ai cũng có quê hương và ai cũng nặng trĩu một tình cảm, một trách nhiệm với quê hương.

Một điều may, cũng có thể là một hạnh phúc đối với tôi, kể từ giây phút tách khỏi cuộc sống gia đình làm một thành viên trong đội ngũ Vệ quốc đoàn1 tôi đã chiến đấu một thời gian dài trên mảnh đất quê mình, cho đến khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được kỷ kết, tháng Bảy năm 1954.

Ninh Hòa thuộc tỉnh Khánh Hòa.

Ninh Hòa là thị trấn nằm trên đường số 1 chưa được trăm nóc nhà. Một phố thị thật nhỏ với ngôi chợ chu vi chưa đầy 500 mét, có hai gian nhà ngói kiểu cũ và hai dãy phố ngắn hẹp nằm khép hai bên.

Nhưng Ninh Hòa không phải chỉ có thế. Ngoài bông lau, ván trắc, cẩm lai là những loại gỗ có tiếng, rừng núi Ninh Hòa còn chứa bao nhiêu là của quý. Người thợ săn chỉ cần vác súng ra khỏi thị trấn độ mươi cây sô là có thể hạ được hươu, lợn rừng, có khi cả hổ, về bán chợ mai. Và mỗi khi tàu lửa từ Sài Gòn ra, từ Hà Nội vào qua ga Ninh Hòa đều dừng lại nhận hàng đặc sản từ nơi đây. Các toa đen chở hàng nhận đầy ắp gạc nai đủ kiểu. Gạc nai, lộc nhung của Ninh Hòa ngày xưa đã từng chở bán khắp noi trong nước, nhất là miền Bắc. Chiếc mắc áo bằng nguyên cả cái sừng nai Cà Tung, ở đây chỉ là một vật bình thường, gần như nhà nào cũng có.

Hồi ấy khách qua lại Ninh Hòa thường không quên mua một ít hương trầm Vạn Lợi về thắp trên bàn thờ ông vải hay lễ bái đền chùa. Cái mùi thơm dịu dàng, thanh khiết của hương trầm Vạn Lợi đã góp phần làm tên tuổi Ninh Hòa được những người yêu hương trầm khắp nước biết đến. Còn chính lõi trầm cùng với kỳ nam là hai vị thuốc quý trong tủ thuốc Đông y, đã từng được xuất khẩu ra các nước Đông Nam Á, sang tận Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên.

Đi về bờ biển Hòn Khói là bắt gặp những ô ruộng muối nối nhau như một bàn cờ to, chiếm mấy thôn liền. Muối Hòn Khói đã một thời mang lại vinh dự cho Ninh Hòa. Những người sản xuất nước mắm ở Phan Thiết, ở Hải Phòng ngày xưa có thể không biết Ninh Hòa nhưng lại biết Hòn Khói. Muối Hòn Khói to hạt, chóng tan, là loại muối để làm chượp cá tốt nhất của nước ta hồi ấy. Ngày trước Hải Phòng đã từng nhận mỗi năm hàng ba bốn vạn tấn muối Hòn Khói...

Quê tôi còn có thuốc lá Lộc Ninh, thuốc lá Tân Xuân, nguồn nguyên liệu vô tận cho hãng thuốc lá Cô-táp ngày trước. Cam Đại Tân của Ninh Hòa vỏ xanh mà ruột vàng ngọt thanh chẳng kém cam Xã Đoài. Quýt vườn Ninh Hòa đỏ da, lớn quả, có hương vị quýt đường của Mỹ Lợi, Hương Cần. Ruộng Đồng Hương phì nhiêu, vườn Đại Tâm màu mỡ, bát cơm Nanh Chồn thơm phức, cây mía Dán Dòn xốp và ngọt thanh... tất cả làm nên một Ninh Hòa giàu đẹp.

Đó là những gì đã để lại trong ký ức tôi - một ký ức vừa pha trộn niềm tự hào vừa gợi nhớ nỗi buồn cảm...

Bởi cái giàu đẹp thời xa xưa đó đâu thuộc về nhân dân lao động!

Ngày xưa triều đình Huế đã sai tay chân vào tận Ninh Hòa tìm những bộ ván gỗ trắc, cẩm lai quỹ giá đưa về trang điểm cho cung điện. Bọn thực dân Pháp cũng đã lệnh cấm rừng, dành riêng cho chúng khai thác những loại gỗ quý.

Và bọn tư sản, địa chủ ở địa phương đã giàu nhanh, giàu to trong việc bóc lột sức lao động của những người thợ rừng quê tôi. Bị dồn đẩy vào bước đường cùng cực, những người thợ rừng đó đã đi hết tháng này sang tháng khác trong các cánh rừng già không vết chân người, đương đầu vời hùm rắn, lắm khi phải ăn trái cây, uống nước suối để tìm trầm đưa về nộp cho chủ. Không ít những người thợ rừng đã phải bỏ mình nơi rừng sâu cho sự giàu có của bọn chuyên nghề bóc lột.

Cách mạng tháng Tám mở ra cuộc đổi đời lớn cho toàn dân tộc. Như những người nghèo khổ khác, gia đình tôi cũng được cấp một sào đất để dựng nhà ở. Tuy chỉ là căn nhà tranh đơn sơ, chật hẹp nhưng là nhà của minh, từ nay hết cảnh ăn đợ, ở nhờ.

Quê tôi có Hòn Hèo nổi tiếng. Nó là một bán đảo rộng trên một trăm sáu mươi cây số vuông, với một dãy núi cao đột xuất (đỉnh cao nhất tới 819 mét) nhô lên giữa biển lúa mênh mông, tạo nên một dáng vẻ đa dạng, vừa thanh bình, vừa gồ ghề gân guốc, bao quanh dưới chân núi là các làng xóm mà tên đất đã đi vào lịch sử: Lệ Cam, Bà Bố, nơi cơ quan huyện Ninh Hòa đóng. Đầm Vân là hậu cứ của Tỉnh ủy Khánh Hòa. Bãi biển Hòn Hèo đẹp, cát trắng mịn kéo dài ra xa mỗi khi thủy triều rút. Đây là nơi hàng tuần, các cơ quan quân, dân, chính, Đảng tỉnh thường tổ chức những buổi luyện tập quân sự, tha hồ lăn lê bò toài trên bãi cát rộng và sạch không gây lấm bẩn.

Ngang về phía nam Hòn Hèo cách bờ chừng hai cây số là Hòn Thị, một đảo có nhiều hang động hiểm trở, đã một thời cơ quan theo dõi địch của cấp trên làm việc ở đây. Đi về phía tây, là thôn Tiên Du có một thắng cảnh nổi tiếng: Chùa Hang, nơi mà nhà sư Thích Quảng Đức đã một thời đến tu hành và có tham gia giúp đỡ đội công tác của ta mỗi khi về đây hoạt động.

----------------------
1. Nay là Quân đội nhân dân Việt Nam.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Nhiệm vụ đặc biệt« Trả lời #2 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 02:23:10 am »
Đối với quân và dân Khánh Hòa, Hòn Hèo đã đi vào lịch sử như một biểu tượng của tinh thần bất khuất và niềm tin của nhân dân đối với cách mạng suốt cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.

Đối với ai đã từng một lần qua đây, đặc biệt là những đồng bào, đồng chí đã cùng chung sức chiến đấu, chia sẻ ngọt bùi trên chiến trường Khánh Hòa, hai tiếng Hòn Hèo từ lâu đã trở nên thân thiết gắn bó với bao kỷ niệm của đời mình. Và bản thân tôi cũng vậy, đã từng được Hòn Hèo đùm bọc những ngày đầu của cuộc kháng chiến; đã từng chiến đấu, đổ máu ở nơi Hòn Hèo; đã tưởng vết thương năm 1947 ở rừng Hòn Hèo cướp đi thân thể mình, nhưng nhờ đồng bào, đồng chí đã giấu kín dưới tán cây của dẫy Hòn Hèo này, để chăm sóc, nuôi dưỡng lành bệnh lại được trở về đội ngũ chiến đấu, trưởng thành như ngày nay, thì sao có thể quên được nơi ấy.

Khí hậu thời tiết ở đây thật ôn hòa, dễ chịu. Vào những tuần trăng sau mùa gặt cuối năm, quê tôi có hội giã gạo, được dịp trai gái gặp nhau bàn chuyện trăm năm. Nhà đăng cai mở hội thường có sân rộng và có con gái đã đến tuổi thành niên. Ngoài nam nữ thanh niên chưa có gia đình riêng là chủ yếu, còn có các bậc trung niên, ông bà già đến dự, vừa chia vui với con cháu vừa chứng kiến chuyện lứa đôi. Cối giã gạo vừa đủ chứa khoảng mươi cân thóc. Ba cô gái cầm ba thanh gỗ dài đứng vòng quanh thay nhau giã một cách nhịp nhàng, chày này giã xuống chày kia nhấc lên, nghe không khác nhịp điệu bài “Tiếng chày trên sóc Bom Bo” của nhạc sĩ Xuân Hồng. Vừa giã các cô vừa hát (phần nhiều là ứng khẩu) theo nhịp chày lên xuống và theo một thứ tự quy ước: chào mời, đố - thử tài, ướm hỏi và hứa hẹn kết duyên. Bên nam đứng quây quanh cối giã gạo hát đối đáp lại. Hội giã gạo kéo dài cho đến khi xuống giống mới mở đầu vụ gieo cấy năm sau thi kết thúc.

Có một bài hát đố và dối được phổ biến trong tất cả người dân quê tôi, ai cũng thuộc. Đại ý bài hát đó như sau:

Em đố anh:

Một trăm cái hố,
hố nào không nước.
Một trăm sợi cước,
cước gì không đo.
Một trăm cây nho
nho gì không trái.
Một trăm cô gái,
gái gì không chồng.
Một trăm đàn ông,
ông gì không vợ.
Một trăm cái quán,
quán gì không đúc bánh xèo.


Và bên trai đối lại:

Một trăm cái hố
hố hò khoan là không có nước.
Một trăm sợi cước,
cước cá không đo.
Môt trăm cây nho,
chữ nho không trái.
Một trăm cô gái, Ị
gái góa không chồng.
Một trăm đàn ông,
đàn ông (thiếu niên) không vợ.
Một trăm cái chợ,
chợ ngày Tết (nguyên đán) không bán.
Một trăm cái quán,
quán tảy (bỏ) không đúc.
Anh đã đối đặng,
em phải mua heo cưới liền.


Ngày tháng trôi đi, cuộc đời chiến đấu có bao nhiêu kỷ niệm đáng nhớ, vậy mà cái bài hát của ngày hội trao duyên mang sắc thái quê hương vẫn hằn trong ký ức tôi. Đêm hội giã gạo đầu tiên mà tôi tham dự là một đêm trăng thật đẹp sau Cách mạng tháng Tám thành công. Cái say sưa sôi nổi của tuổi trẻ được chế độ mới nâng đỡ, chúng tôi vui thả sức đến thâu đêm.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Nhiệm vụ đặc biệt« Trả lời #3 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 02:29:05 am »

II

Nào ngờ các đêm hội đầu tiên ấy lại là đêm cuối cùng đối với tuổi trẻ chúng tôi, bởi tình thế đã đổi thay thật mau lẹ. Được quân Nhật1 tiếp sức, quân đội viễn chinh Pháp đổ bộ từ biển lên đánh chiếm Nha Trang vào cuối tháng Mười năm 1945. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của nhân dân các tỉnh miền Nam Trung Bộ2 bắt đầu.

Không khí chiến tranh lan nhanh đến quê tôi. Các buổi chợ mai Ninh Hòa không còn đầy ắp những đặc sản từ Hòn Khói lên, từ đèo Ma-drắc xuống nữa! Những chuyến tàu chở các đoàn quân Nam tiến từ phía Bắc vào đến ga Ninh Hòa thì dừng lại. Từ các toa tàu từng đoàn người đổ xuống đứng lố nhố chật ních cả sân ga. Tất cả đều là thanh niên tuổi còn rất trẻ, phần lớn mười tám đôi mươi, quần áo quân phục màu cỏ úa, đầu đội mũ ca lô, nói đủ thứ giọng mà tôi chỉ phân biệt được là giọng Bắc. Một âm thanh ồn ào, náo nhiệt, xen vào những tiếng hỏi và những thắc mắc mà bây giờ tôi vẫn còn nhớ: “Nha Trang phía nào, còn xa không?” - “Đường 21 đi Buôn Ma Thuột đâu?” - ‘Tại sao không đi tiếp, đến nơi có mặt trận?”.

Những ngày này cứ mỗi lần có tiếng tàu từ hướng Bắc vọng về là lòng tôi lại'bùng ỉên một ước nguyện gia nhập đội quân Nam tiến.

Một buổi sáng đầu tháng Mười năm 1945, sau khi đi lại nhiều lần, vừa đi vừa đắn đo suy nghĩ, cuối cùng tôi mạnh dạn đến đặt vấn đề với anh chỉ huy đặt cơ quan ở một căn nhà lá cạnh ngã ba đường vào thị trấn Ninh Hòa.

- Xin anh cho tôi được...

- Nào có gì đồng chí cứ nói, không có ai nghe đâu mà sợ.

- Dạ thưa... - tôi sẵng ho để lấy giọng nói tiếp - tôi muốn được đi chiến đấu.

Tôi vừa dứt lời, anh đã đứng dậy bắt tay tôi lắc mạnh nhiều lần, cười rạng rỡ:

- Cám ơn... cám ơn đồng chí! - vừa nói anh vừa ôm lấy tôi, nhấn mạnh - Đội quân Nam tiến mà có được thanh niên địa phương tham gia thì thuận lợi biết mấy.

Ngay chiều hôm ấy tôi được phân công về trung đội anh Xuân.

Cái đêm đầu của cuộc đời quân ngũ thật vui, cứ chong mắt không sao ngủ được, nhưng khi nghe tiếng còi báo thức thì tôi bật dậy thật nhanh và tỉnh như sáo.

Hàng ngày chỉ mong các anh chỉ huy giao nhiệm vụ, và khi nhận việc là khó mấy tôi cũng chỉ nghĩ cách làm bằng được.

Một hôm, anh Xuân chỉ huy trung đội gọi tôi đến trước tấm bản đồ-nhỏ dùng trong các trường học hồi đó hỏi tôi:

- Đồng chí Tư Cụ cho biết tình hình cụ thể về đường sá trong khu vực ta đóng quân.

Nhìn qua tấm bản đồ tôi đã nói vanh vách các chi tiết về những đường sá quanh khu vực Ninh Hòa, về các đèo trên đường số 1 và trên đường 21, đoạn từ đèo Ma-drắc trở xuống. Nghe tôi kể xong, các anh bảo địch không dễ gì tràn vào Ninh Hòa nếu ở các đoạn đèo này ta bố trí lực lượng đánh trả, kết hợp phá hoại mặt đường.

Tôi không được phép dự bàn luận về kế hoạch quân sự nhưng rất tự hào thấy mình đóng góp phần hiểu biết về quê hương của mình và ngầm đồng ý với những trao đổi của các đồng chí chỉ huy.

Ninh Hòa những ngày này như hậu cứ của các mặt trận Nha Trang, Buôn Ma Thuột. Rất căng thẳng, khẩn trương nhưng cũng tấp nập, đông vui và bình tĩnh, sẵn sàng. Hậu phương và tiền tuyến nối quyện với nhau qua tin tức chiến sự được thông báo hàng ngày, qua các lực lượng được phái ra phía trước hỗ trợ và qua số anh em thương, bệnh binh được chuyển về đây cứu chữa: Hơn 1.000 quân Pháp đổ bộ lên Nha Trang từ cuối tháng Chín đến nay vẫn bị ba tiểu đoàn bộ đội Nam tiến tiến công, bao vây. Ở Ba Ngòi được ta vận động, giải thích kết họp với tiến công quân sự, nên khi quân Nhật rút về Cam Ranh đã để lại cho ta trên 1.000 súng các loại. Tại mặt trận Phan Thiết, Phan Rang, các đơn vị bộ đội Nam tiến vào chi viện kịp thời, đã phối họp với lực lượng vũ trang tại chỗ chiếm lại và làm chủ hai thị xã này. Tại Buôn Ma Thuột, ta phục kích diệt 38 xe địch, v.v...

Ninh Hòa vẫn đứng vững trong tình thế bị địch bao vây từ ba phía; đông, tây, nam. Ngày 27 tháng 9 năm 1945 chúng tôi đã đuổi quân Nhật về đồn khi chúng vừa kéo ra định tập kích vào một đơn vị Nam tiến đóng gần nhà ga. Cùng ngày, chúng tôi vô cùng phấn khởi được nghe anh Xuân thông báo: Quân Nhật từ Tây Nguyên theo đường 21 tiến về Ninh Hòa đã bị một đơn vị Nam tiến phục kích sẵn ở đèo Phượng Hoàng, bắt sống toàn bộ. Bọn Nhật ở Ninh Hòa được tin này đã hoảng hốt rút chạy về Nha Trang ngay chiều hôm ấy, giao lại cho ta 240 súng các loại.

Tôi được đồng chí chỉ huy trung đội trang bị cho một khẩu súng trường Nhật. Một khẩu súng và hai bao đầy ắp đạn hẳn hoi. Tôi say sưa sống những ngày kháng chiến đầu tiên trên mảnh đất quê hương mình. Có thể nói đây là những ngày tháng đầy khí thế sục sôi cách mạng đối với mỗi người dân Khánh Hòa nói chung và với bản thân tôi nói riêng. Bài học ban đầu này, cái thời điểm tuy ngắn ấy nhưng lại không thoáng qua chút nào. Bởi vì điều quan trọng nhất giúp tôi rèn luyện bản lĩnh và giàu nghị lực để vượt qua thử thách đầu tiên của chiến tranh, để hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao - chính là lòng yêu quê hương, nơi đã sinh ra mình và mình không bao giờ được thiếu trách nhiệm với quê hương, đất nước.

----------------
1. Tàn quản Nhật ở Nha Trang, Ba Ngòi (Cam Ranh) lúc này lên tới hàng ngàn tên, chúng dồn từ các tỉnh khác vé đày để đợi tàu về nước.

2. Nam Trung Bộ lúc đó gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Gia Lai, Công Tum, Đắc Lắc, Lâm Viên và Đồng Nai Thượng.

Logged

Giangtvx

Thượng tá
*
Bài viết: 25560

Re: Nhiệm vụ đặc biệt« Trả lời #4 vào lúc: 12 Tháng Sáu, 2016, 02:32:16 am »

III

Nha Trang sống trong không khí sục sôi căm thù và trừng phạt quân cướp nước ngay từ những ngày đầu, sau khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2 tháng Chín năm 1945. Vì Nha Trang là một trong những mục tiêu quan trọng mà bộ chỉ huy Pháp đặt kế hoạch đánh chiếm sớm để làm bàn đạp mở rộng tiến công ra các tỉnh Nam Trung Bộ và Tây Nguyên. Nhưng chúng đã vấp phải sự đánh trả mãnh liệt của quân và dân Khánh Hòa, của lực lượng bộ đội Nam tiến vào chi viện cho mặt trận Nha Trang - Ninh Hòa mỗi ngày một đông. Những ngày cuối năm 1945 đầu năm 1946, đi đến đâu chúng tôi cũng bắt gặp các đơn vị Nam tiến thuộc các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nam Định, Hà Nội, Thái Bình, Ninh Bình, Bắc - Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang). Riêng khu vực Nha Trang, Ba Ngòi có bốn tiểu đoàn, còn ba tiểu đoàn khác đứng chân ở thị trấn Ninh Hòa làm lực lượng dự bị.

Đêm 19 tháng 10 năm 1945, Pháp đổ bộ lên đảo Hòn Cau, ven biển Nha Trang. Cùng lúc, quân Pháp trong thị xã đánh chiếm một số nơi. Nhưng chúng đã bị các lực lượng vũ trang của ta đánh trả và siết chặt vòng vây xung quanh những khu vực địch vừa chiếm đóng như nhà ga Nha Trang, nhà máy điện, viện Pa- xtơ. Địch nhiều lần tìm cách phá vòng vây và đổ quân từ biển vào đều bị ta chặn đánh.

Mãi gần ba tháng sau, tức là cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai năm 1946, Pháp huy động một lực lượng khá lớn thủy, lục, không quân mở cuộc hành quân “Gô” (Gaur) do tướng bốn sao Lơ-cléc trực tiếp chỉ huy chia thành hai cánh lớn:

Cánh thứ nhất xuất phát từ Biên Hòa theo đường 20 đánh Di Linh, Đà Lạt, Phan Thiết, Phan Rang, tiến ra Nha Trang.

Cánh thứ hai, từ Buôn Ma Thuột, ngày 25 tháng 1 năm 1946, theo đường 21 đánh xuống. Ngày 27 tháng 1, địch chiếm Ninh Hòa. Từ Ninh Hòa, chúng phối họp với cánh quân ở Phan Rang ra đánh chiếm hoàn toàn thị xã Nha Trang...

Mặt trận Ninh Hòa vỡ!

Đối với tôi đây là một cột mốc đánh dấu khúc quanh trong cuộc đời chiến đấu của mình. Phần lớn lực lượng vũ trang ta phải tạm thời rút ra Đông Bồ, Tuy Hòa, Sông cầu. Một bộ phận nhỏ ở lại Tân Lâm, Trần Tri, Đại Điền. Ta lập tuyến chặn địch ở đèo Cả. Đơn vị Nam tiến của anh Xuân cũng được lệnh rút ra Phú Yên để cùng các đơn vị Nam tiến khác củng cố xây dựng thành những đơn vị chủ lực cơ động của Bộ tư lệnh Liên khu V. Số anh em chúng tôi thì trên tuyên bố: ai ở địa phương nào về địa phương đó chiến đấu.

Thế là từ đây tôi phải xa đơn vị Nam tiến! Tình cảm tôi lúc này buồn vui xen lẫn. Vui vì được ở lại chiến đấu trên mảnh đất quê hương thân thiết và rất tự hào. Trong cuộc chiến đấu không cân xứng lúc đó mà Ninh Hòa vẫn cản giữ, làm chậm bước tiến của kẻ thù, ghi vào trang sử chiến công đầu của quê hương: ngày 27 tháng 9 năm 1945, quân Nhật tập kích một đơn vị Nam tiến vừa mới tới Ninh Hòa, bị quân ta đánh trả mãnh liệt, phải lui về đồn. Cùng ngày, 18 xe chở quân Nhật từ Tây Nguyên theo đường 21 về Ninh Hòa, bị lực lượng ta phục kích, bắt sống toàn bộ. Ninh Hòa bị đủ các loại kẻ thù gây rối, bị chúng bao vây tứ phía, nhưng các lực lượng vũ trang ta vẫn bám và tiến công địch gần năm tháng ròng. Niềm vui pha chút tự hào ấy không làm vợi nỗi buồn trong tôi.

Buồn vì phải xa đơn vị mà tôi vừa gắn bó; buồn vì phải xa những người đồng đội tuy thời gian sống chung còn rất ngắn mà đã hiểu nhau và thương nhau nhiều. Không một chuyện riêng tư, một nỗi buồn vui nào lại không kể cho nhau nghe. Và cứ sau những giờ phút tâm sự thật cởi mở ấy, tình cảm chúng tôi lại chan hòa và gắn quyện.

Những ngày sống chung với các anh, tôi đã hiểu ra được nhiều điều, đã thấy được đất nước ta qua các anh kể về quê hương mình: Hải Phòng, Thanh Hóa, Vinh và đặc biệt là Hà Nội... Từ những nơi xa xôi đó, các anh không quản gian lao nguy hiểm vào đây chung sức chung lòng với nhân dân quê tôi đánh giặc, đã có anh yên nghỉ vĩnh viễn nơi Bắc Khánh1 này!

Hôm tạm biệt, tôi không sao nén nổi xúc động, đã bật thành tiếng khóc và năn nỉ xin được đi theo. Không ai gàn tôi khóc mà chỉ có tiếng nói ân cần, cảm thông, động viên tôi ở lại vì nhiệm vụ.

Mãi sau này, có rất nhiều lần chia tay tạm biệt nhưng tôi vẫn ý thức đầy đủ và ro nét trong tâm khảm mình về lần chia tay năm ấy, được xem như là một trong những kỷ niệm sâu sắc bởi nó mang hơi nóng của tình đồng đội, nghĩa Bắc - Nam mà lần đầu tiên tôi hiểu biết được, nó tiếp tục được bồi đắp ngày càng sâu đậm trong suốt cuộc đời chiến đấu của tôi sau này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn