Nhớ (2)
Ông Trần Văn Triều (Bảy Triều) sanh trưởng tại chợ giữa Mỹ Tho, ông là thân phụ của GS.TS Trần Văn Khê và nghệ sĩ Trần Văn Trạch. Chính cụ đã sáng chế ra dây Tố Lan cho đàn kìm - tương tự như dây Hồ nhì và Bắc Hò nhì, để diễn tả bản Văn Thiên Tường.
Cách lên dây Tố Lan:
Dây trơn: dây to (tồn hay sol) Dây nhỏ (công hayfa) Chủ âm: dây nhỏ bấm phím 1, khảy với dây to trơn là đồng âm (hò-líu) (sol-sol).
Tại sao là tên Tố Lan? Ở đây, xin bạn Trần Văn Khê cho tôi được tóm lược lời kể lại của giáo sư Hồ Hữu Tường như sau: cụ Bảy Triều và cụ Nguyễn An Ninh học cùng lớp tại trường Bổn Quốc (Chasseloup Laubat, nay là Lê Quý Đôn). Ngày xưa có nhiều trường, nhưng chỉ có hai trường nổi bật là trường Bổn Quốc và trường Taberd. Trường Bổn Quốc thực chất là dành cho Tây học, chỉ có gia đình giàu, có vi cánh mới được vào. Học sinh trường Bổn Quốc ngày Chủ Nhựt nghỉ, đi dạo ngoài đường phố bắt buộc phải đội kết và mang phù hiệu, trông vừa đẹp vừa oai, còn học sinh trường Taberd thì áo dài đen. Phần đông các nữ sinh trường Áo Tím (École des Jeunes Filles, trở thành trường Gia Long, rồi Nguyễn Thị Minh Khai như hiện nay) ưa nhìn và làm quen với học sinh trường Bổn Quốc hơn là mấy con “Quạ đen”. Bạn gái của cụ Nguyễn An Ninh là cô Chín Phòng, học trường Áo Trắng (Saint Paul). Cụ Bảy Triều thì có cô Tố Lan, học trường Áo Tím.
Cô Tố Lan biết đàn lẫn ca, nên đối với cụ Bảy Triều, cô vừa là tri âm vừa là tri kỷ. Học tới năm thứ tư, chuẩn bị thi bằng Thành chung (Diplôme d'Études Primaires Supérieures Indochinoises - viết tắt là DEPSI), thì thình lình nghe tin cô Tố Lan qua đời. Phải chăng vì buồn mà xao lãng việc học, nên năm ấy cụ bị đánh rớt.
Về nhà, ví mình như Bá Nha bị mất đi Tử Kỳ, nên cụ lấy đàn kìm ra vừa đàn vừa đặt lời ca cho bài Tử đại oán. Bài ca đặt chưa xong thì thình lình có việc gấp phải đi, nên cụ treo đàn trở lại trên vách. Vừa đi vừa sáng tác, nên khi về tới nhà, sợ quên, cụ với ngay lấy cây đàn kìm để viết tiếp lời ca. Nhưng không ngờ cây đàn bị tuột dây to (nốt tồn), nhưng cụ không buồn chỉnh lại, cứ để vậy mà đàn, nhưng không ngờ cái dây này nó tạo cho cụ cái hào hứng lạ thường, nên cụ giữ dây này luôn và đặt cho nó là dây Tố Lan. Ngón đàn kìm của cụ Bảy Triều tươi mát ngọt ngào mùi mẫn, xoáy tim người nghe, nên nhiều người nói rằng "người nào chưa có dịp nghe cụ Bảy Triều đàn dây Tố Lan, thì kể như người ấy còn thiếu."
Ông Hồng Tấn Phát (Hai Phát). Người gốc Trà Vinh. Ông điều luyện trên ba nhạc khí như đàn tam, đàn cò, và đàn violon. Chẳng những giỏi bên tài tử Nam Bộ, ông còn giỏi về nhạc lễ, nhất là đường roi. Ngoài tính cách giòn tan, lại còn thêm cao siêu về tiết tấu (rythme). Môn đệ của ông là hai danh cầm Hai Thơm (violon) và Văn Vĩ (guitare). Đàn tam là loại đàn ba dây nylon. Thùng đàn hình chữ nhật dài 18 phân, ngang 14 phân, dày 10 phân. Một bên bịt bằng da trăn hay da con kỳ đà, một bên để trống, cần đàn dài nhưng lại không có phim. Âm thanh của đàn tam tương tự âm thanh đàn banjo; nhưng khác hơn banjo, âm thanh của đàn tam đã cứng nhắc, lại kém dư âm. Giá dùng nó để tả tiếng nấc của người chinh phụ trong phòng the gối chiếc thì không gì đúng hơn.
Những ai từng nghe ông Hai Phát đàn tam hòa bản Lưu thủy trường với đàn tranh 21 dây của Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình II (băng Nam Bình I và II mang tên "Tiếng Đàn Tranh” phát hành năm 1969), thì sẽ ngạc nhiên thấy dưới bốn đầu ngón tay thần diệu của ông, cung bậc trở thành phân minh chững chạc, âm vang tròn trịa phong phú như bất cứ loại đàn dây nào có phím. Đó là những đoạn chuyền biến khoan thai; nhưng khi chạy chữ nhanh (vélocité) thì âm thanh dồn dập như thác đổ, nhịp điệu gút mắc, chứng tỏ một tài năng và sự điêu luyện đã đến mức tột đỉnh. Nếu chạy chữ trên cây đàn vĩ cầm (violon) đòi hỏi phải có thính giác mẫn tiệp, ngón đàn chính xác thế nào, thì chạy chữ trên đàn tam cũng như vậy, mà còn cao hơn thế nữa, vì vĩ cầm với bốn dây âm hưởng hơn, âm thanh phát ra dễ hơn, nghe rõ hơn.
Lối đàn cò của ông Hai Phát là kéo cung dài; đàn mực thước đạo mạo thật là sâu sắc theo thế hệ cổ. Một buổi sáng vào hạ tuần tháng 11 năm 1972, từ Tòa Thánh Tây Ninh về, ông cùng nhạc sĩ Bảy Hàm đến thăm tôi [Vĩnh Bảo]. Lần này gặp lại, tôi thấy hai chân của ông sưng, lở loét, bên ngoài băng vải, sức khỏe xuống dốc thấy rõ. Sau nửa giờ thăm hỏi, tôi mang đàn ra để cùng đàn và thâu thanh chơi. Ông đàn cò, Bảy Hàm đàn kìm, tôi đàn tranh, hòa bản Tây Thi vắn.
Ông lên dây đàn không còn chính xác như xưa, khiến tôi phải điều chỉnh giúp ông. Hòa tấu tới câu 8 thì ông Hai Phát đàn lộn câu lẫn sai nhịp. Ông Bảy Hàm yêu cầu tôi xóa đi để đàn lại. Nhưng tôi không đồng ý, kể cả ông Hai Phát cũng vậy. Ông Hai Phát nói: “Mặc kệ, đàn trúng hay trật không là vấn đề. Lần này đến thăm Vĩnh Bảo để hòa đàn chơi và coi như gặp nhau lần chót để rồi về Trà Vinh chết. Trước khi chết, điều mà tôi mãn nguyện là được Vĩnh Bảo mời đàn cho hai cuốn băng Nam Bình I và II, lưu lại tiếng đàn của một nhạc sĩ bất hạnh.” Đây là lời trối trăng, mười ngày sau đó, tôi được báo tin cho biết ông đã qua đời. Vì hay tin trễ, tôi không dự được đám tang ông. Tuy nhiên nhóm Duy Lân cùng một số nhạc sĩ đã xuống Trà Vĩnh lo ma chay cho ông và tiễn ông đến phần mộ.



