Nhớ (3)
Ông Huỳnh Văn Sâm (Sáu Tửng). Người gốc Gò Công, thân phụ của tay trồng có hạng Huỳnh Anh và nữ ca sĩ Bạch Huệ. Cái tên Huỳnh Văn Sâm thì còn xa lạ đối với một số nhạc sĩ và người đời; nhưng cái tên Sáu Tửng thì nhạc sĩ lẫn khách mộ điệu, không ai không biết. Sở trường của ông là cây đàn kìm và xến. Đàn kìm đàn xến, thay vì tay trái bấm dây bỏ ngón với bốn ngón mới chạy chữ nhanh, ông lại chỉ sử dụng hai ngón trỏ và giữa để bấm phím. Ấy vậy mà vẫn nhanh nhẹn, lưu loát không thua người sử dụng bốn ngón. Ông luôn luôn là tay đàn kìm chánh cho nhiều sân khấu cải lương.
Từ năm 1928 đến cuối đời, ông lần lượt cộng tác với nhiều gánh hát tên tuổi như: Văn Hí Ban, Võ Hi Ban, Phước Cương, Trần Đắt, Hồng Nhựt, Phụng Hảo,... ngoài ra ông còn đàn thu dĩa nhựa. Tuồng hát nào mà cô Bảy Phùng Há có vai, thì đàn kìm nhứt định phải là Sáu Tửng. Y hệt như trường hợp của ca sĩ Thành Công, ca thì phải có Hai Long đệm đàn guitare-mando.
Thập niên 1940, ông đã từng ra Bắc dạy đàn kìm. Khoảng năm 1950, dưới sự hướng dẫn của ông bầu Ba Quan (chủ tiệm hột xoàn Ba Quan chợ cũ), ông đã cùng ông Duy Lân, Tám Thưa, Việt Hùng, cô Tư Bé, và nhạc sĩ Nguyễn Thế Huyện (Tư Huyện) đàn cò và violon. Pháp làm dĩa nhựa mang nhãn hiệu Kim Khánh.
Năm 1960, tối thì đàn cho gánh hát, trưa quay về trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ để cùng hai nhạc sĩ Ba Dư (đàn tranh), Chín Trích (đàn cò) đệm cho học sinh lớp Sân khẩu ca diễn. Lối đàn kìm và xến của ông rất độc đáo. Tiếng đàn phát ra nghe rất anh hùng và tự tin. Chữ đàn sắp xếp
sắc sảo, câu đàn tròn vành rõ nghĩa, hơi nào ra hơi nấy, tiết tấu mắc mỏ, mùi dễ gợi cảm cho người cùng đàn. Trong dàn nhạc, lối đàn sôi động, ra vô, quăng bắt rất là mạch lạc. Trong khi hòa tấu, có lúc ông ngưng đàn, rồi bất thần nhào đại vô, làm cho người cùng đàn giựt mình, hay rơi đài. Mỗi lần có dịp hòa đàn với ông, tôi luôn luôn bắt gặp nơi ông có một số câu đàn mới, lạ và hay. Có lần ông tâm sự với tôi: “Khi văn hát, mọi người lo đi ngủ. Còn tôi, sau khi kéo vài điều (ông nghiện á phiện) rồi thì ôm đàn kìm, mò mẫm chế câu đàn mới. Cái sợ nhứt của tôi là đàn vào những giờ yên lặng. Mình nhấn chữ đàn chưa chín chữ, thấy rõ mồn một. Vĩnh Bảo có cái lợi hơn tôi là chế ra cách viết bản, khi nảy sinh ra câu đàn mới thì ghi liền ra giấy, còn tôi thì phải ôm đàn, đàn đi đàn lại cho tới thuộc lòng, vì sợ sáng ra quên đi.”
Năm 1930, tôi được dịp nghe ông đờn đàn kìm trên dây Hò Ba cho chị Hai Thân và chị Sáu Liềng (danh ca Cao Lãnh), và đàn dây Bắc Oán cho anh Bé ở Nha Mân (Cái Tàu Hạ), đồng hương với danh ca Tám Thưa ca Vọng cổ và Tây Thi hơi Quảng. Thời điểm này tôi chưa nghe ai sử dụng hai loại dây Hồ Ba và Bắc Oán đàn kìm, nên tôi cho rằng ông Sáu Tửng là người mở màn cho hai loại dây này.
Năm 1935, tôi nghe ông độc tấu đàn kìm trên dây Bắc Oán Tây Thi Quảng thu vào dĩa. Người ta có thể nhận thấy lối đàn độc đáo của ông Sáu Tửng qua bản Ngũ đối hạ, Lưu thủy trường với đàn cò (Chín Trích), đàn tranh Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình I.
Nói về đàn thu vào dĩa nhựa, năm 1938 tôi có dịp đàn vô đĩa nhựa Béka cùng với ông Năm Nghĩa (Trà Ôn) đàn
tranh, Ba Cân (Xóm Gà) đàn kìm và tôi (đàn gáo) 20 câu Vọng cổ nhịp 16 cho cô Ba Thiệt (chị ca sĩ Năm Cần Thơ) ca. 20 câu Vọng cổ nhịp 16 gói gọn trong hai dĩa. Mặt đầu của dĩa 1 gồm có rao và câu 1,2, 3 và 4. Mặt 2 gồm sáu câu (5, 6, 7, 8, 9, 10). Dĩa 2, mỗi mặt năm câu. Thời gian quy định cho mỗi mặt đĩa là 3 phút; không được dư hay thiếu dù là một giây đồng hồ. Phần đông nhạc sĩ khác là phải mất đi vài lần đàn mới xong một mặt dĩa. Riêng ông Sáu Tửng, ông canh giờ rất hay, chỉ một keo là ăn tiền.
Ông sống nghèo tại hẻm Taberd (Nguyễn Du). Có lần tôi đề nghị ông để tôi nhờ bác sĩ quen thân (bác sĩ Phạm Kim Tương) giúp ông cai á phiện. Ông đáp lại tôi bằng một câu xanh dòn: “Vĩnh Bảo biết Sáu Tửng sống là để hút và đàn.” Không bao giờ quên được lần cuối cùng gặp ông tại nhà may Nguyễn Văn Phú ở đường d’Ormay Sài Gòn vào năm 1980. Đêm ấy có tổ chức đàn ca trên lầu bốn. Thính giả phần đông là cao tuổi và tri âm. Tay đòn thì có nhạc sĩ Thanh Tuyền đàn kìm, Tư Huyện đàn cò và violon, tôi đàn tranh, ca thì cô Thanh Trang và Thanh Hoa. Sở dĩ không mời ông Sáu Tửng vì ngại cho sức khỏe của ông. Nhưng bất ngờ ông tự động đến, kè một bên có ca sĩ Huệ Nhi dìu ông lên lầu. Gặp ông tôi rất mừng vì mình có tay đàn ưng ý. Nhưng vì thương và lo cho sức khỏe của ông, tôi trách ông đến làm chi. Trước mặt mọi người ông nói: “Sở dĩ không được mời mà đến vì muốn nghe Vĩnh Bảo đàn.” Tôi đỡ lời: “Anh Sáu, anh có lạ gì với tiếng đàn của tôi?” Bắt đầu đàn, ông ôm đàn kìm rao, tranh, violon cùng rao theo, cô Thanh Trang nói lối. Khi vào Vọng cổ, ông ngưng đàn, nghẻo đầu tựa vào vành đàn, nhắm mắt nghe. Tôi thầm nghĩ rằng từ đây sẽ không còn dịp nghe tiếng đàn Sáu Tửng hay cùng đàn với ông nữa. Đúng vậy, một tuần sau nghe tin ông qua đời...
Tôi quen với ông từ năm 1930 tại Cao Lãnh. Khi ông theo gánh hát lên hát ở Nam Vang năm 1935, ông cũng đến nhà tôi gần như hằng đêm sau khi vẫn hát. Giữa ông và tôi có nhiều kỷ niệm khó quên.
Ông Võ Văn Tiễng (Mười Tiếng). Ông sanh trưởng ở Gò Công. Nghề tay mặt của ông là làm kế toán cho nhà thuốc tây. Ông chuyên về đàn kìm, nhưng ông đàn tranh và cò cũng hay.
Ngày nay nhạc sĩ đàn kìm phần đông là bỏ bớt nhấn thay vào đó lối đàn chuyền nhiều chữ, đánh mất đi cái điềm đạm của cây đàn lãnh đạo này. Ai đã từng nghe ông Mười Tiễng song tấu kìm với tranh Vĩnh Bảo trong băng Nam Bình I trên những bản Nam xuân, Nam ai, Văn Thiên Tường, Tứ đại oán thì thấy rõ ngón đàn kìm của ông rất là gân guốc, sâu sắc, đổ hột, tiếng đàn tròn trịa óng ả, nhấn chính chữ, thiết nghĩ ai ai cũng đồng ý dành cho ông một ngai riêng biệt.
Hai ông Năm Vĩnh và Hai Thơm. Ông Năm Vĩnh chuyên về đàn kìm, và chơi Hạ Uy cầm (Guitare Hawaienne). Ông đàn tay trái. Dây Hò năm là đặc biệt của ông, đã có một thời làm cho ông nổi tiếng. Trong băng Nam Bình II, trong bản Đảo ngũ cung, với Hai Thơm (violon), Vĩnh Bảo (tranh), tiếng đàn kìm của ông lúc thì lững thững, khi thì chạy chữ dồn dập. Song tấu 6 câu Vọng cổ kìm - violon, phong cách đàn kìm trên dây Hò Năm của ông Năm Vĩnh rất là tuyệt diệu, tiên phong đạo cốt, ẩn ẩn hiện hiện, y như hạt sương mờ, làm say mê khách mộ điệu.
Vĩ cầm của ông Hai Thơm cũng đổ hột (détaché), cũng quyến luyến (lié), cũng vút lên (envolée) không thua gì những danh vĩ cầm quốc tế. Ngón chạy chữ (vélocité), tuy không máy móc như đàn vĩ cầm quốc tế, nhưng đạt được như vậy cũng phải vài chục năm khổ công tập luyện, ấy là chưa kể đến hương vị ngọt ngào trong cung bậc mà chỉ có những nhạc sĩ chính công (artist- musicien) mới có, còn những thợ đàn thì ngàn đời vẫn thiếu.
Song tấu Vọng cổ kìm - violon, làm cho người nghe cảm thấy cái buồn man mác với những nốt đàn lờ lợ, lạ tai của dây Hò năm đàn kìm. Trong khi đàn, cả hai nhạc sĩ, ai cũng tung ra ngón độc chiêu rất là kỳ bí. Khi thì ríu rít như tiếng chim hót buổi sáng của vĩ cầm, lúc buông rơi từng chữ đàn của đàn kìm, làm cho người nghe cảm thấy hai bên đang chực hờ quật ngã nhau, lôi cuốn khách mộ điệu chuộng cái lối đàn gây cấn mắc mỏ, phập phồng hồi hộp, chẳng biết ai sẽ quật ngã ai. Quả là “kỳ phùng địch thủ”.
Còn có ông Jean Tịnh, người cao lớn chuyên đàn violon bản Tây, ông làm việc cho đài Radio Sài Gòn, số 3 đường Richaud (nay là Nguyễn Đình Chiểu). Tuy chơi đàn Tây nhưng ông cũng mê cổ nhạc nên chép 6 câu Vọng cổ nhịp 8 đàn cò để sử dụng trên đàn violon. Quan niệm của người nhạc sĩ Tây phương thường nghĩ rằng bản đàn chép ra được tức là đàn được nhưng mà họ quên rằng nhạc Việt Nam thuộc nhạc đơn điệu (essence monodique) theo truyền thống mỗi nốt đàn đều được tô điểm bằng những nhấn nhá rung mổ vuốt để nói lên điệu thức (mode) và hơi (air, nuance) khóa lại của bản. Ông Jean Tịnh nốt nào cũng rung nghe dễ tức cười y hệt như người Pháp nói tiếng Việt.
Tuy nhiên, việc làm của ông gợi ý cho một số nhạc sĩ đàn cò đầu tiên là ông Mười Còn. Đàn violon đối với người nhạc sỹ đàn cò là sự phối hợp của đàn cò và đàn gáo, những kỹ thuật của đàn cò và đàn gáo có thể áp dụng cho đàn violon. Năm 1938, tôi đã có dịp nghe ông Mười Còn đàn Vọng cổ nhịp 16 trên đàn violon. Ngón đàn của ông rất tươi mướt, lối đàn khuôn thước mẫu mực rất hay.



