Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHỚ LẠI NHỮNG NĂM THÁNG ĐẦU TIÊN Ở KHÔNG QUÂN

Sau năm 1954, khi tiếp quản sân bay Sân bay Gia Lâm, Bộ Quốc phòng bắt đầu xây dựng lực lượng không quân. Ngày 3-3-1955, Ban nghiên cứu Sân bay (C47) được thành lập do Trần Quý Hai phụ trách, đặt nền móng tổ chức cho lực lượng không quân. Cơ quan tiến hành tuyển chọn, đào tạo phi công và kỹ thuật viên, cử nhiều đoàn cán bộ sang Liên Xô và Trung Quốc học tập. Nhờ sự chuẩn bị này, khi được viện trợ máy bay MiG‑17, lực lượng Không quân Việt Nam nhanh chóng hình thành và đã lập chiến công trong trậ

Lai Châu07/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tháng 2-1955, tôi trình giấy giới thiệu điều động với đồng chí Hoàng Ngọc Diêu. Đồng chí nhận và hỏi về quê quán, tuổi, ở đơn vị nào về, đã biết về nhận nhiệm vụ gì chưa. Tôi gọn lỏn trả lời câu cuối cùng: "Dạ chưa!". Đồng chí Diêu tự giới thiệu: "Tôi về đây chưa đầy tháng, được trên giao phụ trách Trưởng phòng Tham mưu. Trên điều động về đây mới 30 - 40 người và đang tiếp tục điều về Tôi giao cho anh phụ trách công tác quân lực - quân sự của Hàng không (tức là Không quân)". Vừa nói xong, đồng chí đưa tôi qua phòng đồng chí Trần Quý Hai để báo cáo đã giao cho tôi 2 nhiệm vụ: Quân lực, quân sự, và giữ chức Trưởng ban. Nhìn tôi đồng chí Hai hỏi: "Đồng chí Thụ đã rõ nhiệm vụ chưa?" - "Thưa đồng chí, quân lực - quân sự tôi chưa hề làm" - "Đồng chí ở đơn vị nào về?" - "Thưa đồng chí, tôi là lính chiến ở trung đoàn 66 đã tác chiến ở chiến trường D".

Cuối chiến dịch cấp trên đã đề bạt tôi lên cấp tiểu đoàn trưởng, giữ chức tham mưu phó trung đoàn 66. Tôi đang xây dựng doanh trại cho đơn vị thì có lệnh điều tôi về Hàng không. Về tới nơi làm việc, đồng chí Diêu đưa cho tôi một bản danh sách 10 đồng chí trợ lý: Đồng chí Xương, đồng chí Hoàng, đồng chí An, đồng chí Cường, đồng chí Cẩn, đồng chí Đào, đồng chí Tám, đồng chí Thịnh, đồng chí Hậu, đồng chí Hóa. Đồng chí Diêu dẫn tôi về nơi ở và làm việc của Ban Quân lực - Quân sự, giới thiệu tôi là trưởng ban, anh em vui mừng hoan hô, tưởng rằng tôi là cán bộ của Không quân, là chỗ dựa cho anh em hoạt động, không ngờ rằng tôi là cán bộ quân sự ở bộ binh về.

Qua tìm hiểu tình hình, tôi được biết cơ quan đang trong quá trình hình thành, đơn vị có duy nhất sân bay Gia Lâm mới tiếp quản Khu 100 ngày (10-10-1954). Các đồng chí vào tiếp quản là Nguyễn Văn Giáo, Hà Đổng, Hà Cân, Đức Việt (người Đức), Đoàn Mạnh Nghi, Trần Sự đồng chí Tình. Bộ mới bổ sung thêm tổ thông tin gồm 40 - 50 người và tiểu đoàn Trấn Ninh do đồng chí Văn, tiểu đoàn trưởng bảo vệ canh gác sân bay Gia Lâm.

Trong thời gian này, cố vấn không quân Liên Xô Maliôp sắp về nước và đoàn cố vấn không quân Trung Quốc gồm 30 người do đồng chí Chu Mai Đình phụ trách đã có mặt.

Trước tình hình như vậy, tôi nghĩ cần phải dựa vào tập thể 10 trợ lý để phân công công tác, đăng ký đi nắm tình hình ở từng cơ quan, đơn vị. Cứ đến 16h30 chiều, toàn Ban hội báo, phân công, bổ sung công tác cho hôm sau. Hàng ngày 7 giờ sáng các trưởng ban lên hội báo tình hình công tác với trưởng phòng tham mưu. Trong một thời gian ngắn nề nếp công tác của các ban Phòng đã được xây dựng.

Ngày 3-3-1955, Bộ Quốc phòng đã có Quyết định số 220 QĐ/QP thành lập Ban nghiên cứu Sân bay, phiên hiệu C47 được hình thành từ 4 phòng: Tham mưu - Chính trị - Hậu cần - Kiến trúc, cơ sở tại sân bay Gia Lâm, do đồng chí Trần Quý Hai phụ trách. Ngày 3-31- 1955 đã trở thành ngày truyền thống của Không quân nhân dân Việt Nam .

Bộ Quốc phòng tiếp tục bổ sung về rất nhiều cán bộ cho Ban nghiên cứu Sân bay và giao nhiệm vụ tổ chức một bộ phận cán bộ đủ thành phần để Bộ đưa về tiếp quản sân bay Cát Bi (Khu 300 ngày). Sau khi tiếp quản sân bay Cát Bi, bộ cho phép tổ chức 4 sân bay có sẵn: Mường Thanh, Nà Sản, Vinh, Đồng Hới và một số bãi hạ cánh phục vụ máy bay quốc tế, như Tiên Yên, Đông Triều , Mai Pha (Lạng Sơn) . . . .

Tháng 5-1955, đồng chí Đặng Tính về thay đồng chí Trần Quý Hai lên Tổng tham mưu phó. Tuy vậy, vấn đề cốt lõi và quan trọng nhất để xây dựng lực lượng không quân vẫn chưa có: Người lái, người kỹ thuật và máy bay. Bộ Tổng tham mưu thấy trước việc này, đã chỉ thị cho toàn quân tuyển chọn người có trình độ văn hóa (tốt nghiệp tiểu học - Primerơ trở lên) , sức khỏe loại A đặc biệt, lý lịch rõ ràng, trong sạch và có đạo đức tốt. Các đơn vị tuyển chọn được bao nhiêu người thì giới thiệu về tạm trú tại Liễu Giai, Quần Ngựa. Bộ giao cho Cục Quân lực và Cục Bảo vệ phụ trách, lấy cán bộ quân lực, cán bộ tổ chức và tổ y bác sĩ của Ban nghiên cứu sân bay lập thành đoàn cùng đi từng địa điểm trên để tuyển chọn, xác minh. Cuối cùng 140 người đã được chọn đi học lái máy bay toàn bộ hồ sơ, lập danh sách đưa về Bộ duyệt.

Tôi được Chính ủy Đặng Tính giao cho lên Cục Quân lực xin giấy giới thiệu ra Bộ Ngoại giao làm hộ chiếu cho đoàn đi học, việc lạ tôi chưa thấy bao giờ: Là lính dép cao su, qua vọng gác Bộ Ngoại giao vào đến nơi tiếp giấy có thảm nhung đỏ trải trên đường vào, tôi toan thò tay tháo dép thì đồng chí dẫn đường bảo không cần, cứ đi theo đồng chí lên thẳng vào phòng ở tầng 2. Tôi được giới thiệu là cán bộ ở Bộ Quốc phòng sang xin làm thủ tục ngoại giao cho một lớp đi học lái máy bay. Đồng Ung Văn Khiêm, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao, bắt tay tôi hỏi công việc, đồng chí vui lắm vì nay ta có máy bay (tôi nghĩ bụng mới chỉ chọn được người mà chưa có máy bay đâu). Đồng chí đã mời đồng chí Vụ trưởng Châu Á đến. Sau khi nhận bản danh sách trích ngang kèm theo 280 ảnh 3 x 4 và 140 bộ hồ sơ, đối chiếu từng bản một, hồ sơ đủ tốt, đồng chí hẹn 3 ngày đến nhận hộ chiếu. Từ thảm đỏ ra, tôi lại cuốc bộ về Gia Lâm, trong lòng phấn khởi vì công việc thuận lợi và rất ấn tượng khi lần đầu đến Bộ Ngoại giao. Đến hẹn, tôi lên Bộ Ngoại giao nhận quyển hộ chiếu tập thể và 1 hộ chiếu ngoại giao cho đồng chí trưởng đoàn Đào Đình Luyện. Để đảm bảo an toàn hồ sơ, tôi đã gọi xích lô về Gia Lâm. Về đến nơi, người tôi cảm thấy mệt lả dần, cảnh vệ vọng gác bế tôi xuống dìu về cơ quan khi 2 tay vẫn ghì chặt cặp tài liệu và hộ chiếu vào ngực.

Bộ Quốc phòng đã phát trực tiếp đủ trang phục cho 140 học viên. Ngày 12-2-1956, đồng chí Đào Đình Luyện dẫn 3 đội 140 người lên tàu liên vận ở ga Hàng Cỏ. Cán bộ, cơ quan Bộ, thủ trưởng các cơ quan Ban nghiên cứu Sân bay ra tiễn chân đến lúc tàu chuyển bánh. Sau đoàn này, Bộ có gửi một tốp đi học trực thăng ở Liên xô do anh Phạm Đình Cường phụ trách.

Cục Quân lực cùng Ban Quân lực Ban nghiên cứu Sân bay tuyển tiếp được 200 người tập trung bồi dưỡng văn hóa vài tháng. Tháng 8-1957, đồng chí Võ Duy Cư, đồng chí Dưỡng dẫn đoàn 200 người sang Đông Bắc, Trường Xuân, Trung Quốc học kỹ thuật máy bay, anh em đặt tên đoàn này là đoàn Hồ Nam. Thời điểm này, Bộ thông báo Bác Hồ đã gửi thư sang Liên Xô xin viện trợ tàu bay. Được Liên Xô đáp ứng sẽ viện trợ, đoàn đồng chí Đào Đình Luyện chia ra học 2 loại: Máy bay cánh quạt và máy bay phản lực. Khi chính thức Liên Xô thông báo viện trợ cho ta 40 tàu bay MIG- 17, trong đó có 4 chiếc UMIG là máy bay huấn luyện, cũng là lúc đoàn Hồ Nam cùng nhập về với đoàn đồng chí Luyện.

Trung Quốc rất hữu nghị cho phép ta tổ chức đoàn bay cả trên không và mặt đất tại sân bay Cao Mật, tỉnh Sơn Đông. Đồng chí Đào Đình Luyện - Đoàn trưởng, đồng chí Đỗ Long - Chính ủy, đồng chí Lê Văn Thọ - Tham mưu trưởng đóng quân ở đó được phía Trung Quốc cử giáo viên luyện và thực tập thành thạo.

Tình hình trong nước đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại lấn sâu ra miền Bắc. Được sự đồng ý của phía Trung Quốc, đoàn đã chuyển về sân bay Mông Tự giáp biên giới Việt Nam để bay về nước. Ngay trận ra quân đầu tiên (3-4-1965), Không quân Việt Nam đã đánh thắng không quân đế quốc Mỹ trên bầu trời Hàm Rồng - Thanh Hóa.

Đồng thời với các đoàn cử đi học lái máy bay và kỹ thuật ở trên, từ đồng chí Cục trưởng Đặng Tính đến các cán bộ ở cơ quan chỉ huy và đơn vị luân phiên từng đoàn qua đào tạo ở Liên Xô và 4 đoàn qua đào tạo ở Học viện Không quân nhân dân Trung Quốc để đồng bộ với nhiệm vụ chỉ huy và xây dựng lực lượng Không quân Việt Nam phát triển mạnh như ngày nay.

Là cán bộ bộ binh về Không quân từ lúc ban đầu mới hình thành với một số ít người và rất nhanh chóng trở thành một lực lượng lớn mạnh, hiện đại, cùng tham gia đánh thắng không lực Hoa Kỳ trên đất nước ta, tôi có đóng góp chút ít hoạt động và xây dựng, nay ghi lại vài sự việc với tình cảm của mình với lực lượng không quân để cùng bạn đọc nhớ lại "Cái mới hiện tại trên cái gốc ban đầu”.

Năm 1985, nhiều cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên Không quân nghỉ hưu, chuyển ngành, phục viên ở khu vực Hà Nội mong muốn gặp nhau thành tổ chức, cùng ôn nghiệp cũ. Tôi tự nguyện nhận nhiệm vụ đi động viên và thu nạp về 50 hội viên. Ban liên lạc được cử ra gồm 8 người (các đồng chí: Thanh Quân, Mai Quân, Lê Minh, Tô Minh, Văn Đức, Đoàn Mạnh Nghi, Trần Sự và tôi Nguyễn Văn Thụ) do anh Thanh Quân làm trưởng ban, tôi làm thường trực phụ trách tổ chức. Cứ ngày 3 tháng 3 hàng năm, Hội lại họp mặt sinh hoạt tại Bảo tàng Quân đội. Hội đã phát triển nhanh chóng lên đến hàng trăm người. Năm 1990, đồng chí Hoàng Ngọc Diêu, trưởng phòng tham mưu đầu tiên, nguyên Tổng cục trưởng Hàng không dân dụng về nghỉ hưu, Ban liên lạc đã mời đồng chí làm trưởng ban. Các thành viên Ban liên lạc trước đó lần lượt ra đi và các thành viên mới được tiếp tục bổ sung. Đến hôm nay, 3-3-2004 Ban liên lạc có 25 ủy viên với hơn 1000 hội viên ở khu vực Hà Nội. Cũng năm 1990, Ban liên lạc Không quân Hà Nội được Thường vụ Đảng ủy Quân chủng Không quân (đồng chí Phạm Thanh Ngân) chấp nhận. Từ đó đến nay, cứ ngày 3-3 hàng năm, ngày truyền thống của Không quân Việt Nam, Ban liên lạc lại tổ chức để các hội viên về họp mặt sinh hoạt tại Quân chủng Không quân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn