NHỚ LẮM NHỮNG NGÀY LÀM LÍNH THỦY QUÂN
Đang là lính thuộc Lữ đoàn 808 bộ đội chủ lực. Tôi nhận được quyết định của trên cử đi học lớp Thuỷ quân Sông Lô. Trong số 10 đồng chí được cử đi tất cả đều là dân cư vùng biển. Chúng tôi vô cùng phấn khởi bàn giao súng đạn chuẩn bị lên đường. Từ giã núi rừng Yên thế, trong đội hình tiểu đội do anh Hà Ngữ chỉ huy. Chúng tôi bắt đầu cuộc hành quân bộ ròng rã trên 10 ngày đường mới về tới bến Bình Ca. Từ Bình Ca chúng tôi chuyển sang đi đò dọc xuôi về ngã ba Đoan Hùng (nơi tiếp giáp giữa Sông Lô
Sau khi tiếp nhận giấy tờ của chúng tôi, Ban chỉ huy tiểu đoàn học sinh trao đổi trong hiệu bộ rồi phân bổ chúng tôi về các đơn vị học viên. Tôi được biên chế vào đại đội một do anh Lê Trường Đa chỉ huy và cuộc đời lính học sinh Thuỷ quân của tôi bắt đầu. Đã tham gia sinh hoạt tập thể từ tuổi 15 và đã từng là lính chiến đấu, lại cùng lứa tuổi với các học viên trẻ, nên tôi nhanh chóng thích nghi với nếp sinh hoạt của nhà trường. Từ việc tham gia làm lán trại, đào hầm hào, lấy củi, hái măng, giúp dân gặt hái... đến việc giữ vững kỷ luật học tập và rèn luyện trên thao trường, cũng như hoà mình trong sinh hoạt hội họp, ca hát và luyện tập văn nghệ trong đơn vị... Tôi luôn là một thành viên hăng hái tham gia tích cực vói ý thức tự nguyện, nên dù thiếu ăn, thiếu mặc, sinh hoạt và học tập, rèn luyện suốt ngày nhưng tôi vẫn hăng say, tươi vui yêu mến đơn vị và đồng đội.
Rồi vào mùa thu năm ấy (1950), theo chỉ thị của Bộ, nhà trường tách ra thành lập một đơn vị lấy tên là Đội Thuỷ quân 71 được sang học tập kinh nghiệm chiến đấu trên biển ở Trung Quốc. Tôi vinh dự được chọn là một trong những học viên của trường được tham gia đơn vị này. Số anh em được đi đều rất phấn khởi, nhưng không khỏi lưu luyến với trường, nhớ thầy, nhớ bạn lúc lên đường. Nhiều anh em đã rơi lệ lúc chia tay với những ngày sống và học tập tươi trẻ tại Sông Lô, Sông Chảy mãi mãi để lại trong chúng tôi những kỷ niệm tốt đẹp.
Ngày ấy Hoa Nam được giải phóng, nhưng đường số 4 (biên giới Việt Trung) vẫn bị Pháp chiếm đóng. Nên cuộc hành trình của Đội 71 chúng tôi phải vượt núi xuyên rừng khá vất vả, ròng rã hơn nửa tháng trời mới qua được biên giới ở đoạn Đồng Đăng - Ái Khẩu. Đoàn chúng tôi đến Bằng Tường nhưng Bạn chưa chuẩn bị kịp phương tiện xe cộ, nên lại đi bộ thêm hai ngày đường nữa mới đến Long Châu. Tới đây Bạn có chuẩn bị đưa chúng tôi đi Nam Ninh bằng đường thuỷ, sau đó đưa chúng tôi đi tiếp bằng ô tô đến Cam Giang (Tsékham), một thành phố nhỏ trên bờ biển Đông, kề ngay phía bắc của bán đảo Lôi Châu và hôm sau đưa chúng tôi ra đảo Điều Thuận, (Điều Thuận là một hòn đảo nhỏ cách đất liền hơn 10 cây số). Bạn bố trí chúng tôi ở vào nhà dân. Nhân dân trên đảo đối xử với chúng tôi rất tốt. Thời gian học tập rất khẩn trương, trong vòng 6 tháng dưới sự tổ chức chỉ đạo của Quân đoàn 43 (là một quân đoàn mạnh thuộc đệ tứ dã chiến quân). Chương trình học tập của chúng tôi được kết hợp giữa học tập kỹ thuật và chiến thuật tác chiến bộ binh (tổ 3 người và tiểu đội) cùng với việc luyện tập và vận hành tác chiến bằng thuyền buồm, học tập đổ bộ chiếm lĩnh trận địa và sau cùng là giới thiệu trận đánh giải phóng đảo Hải Nam. Được bạn giúp đỡ nhiệt tình chu đáo, cùng với sự tích cực học tập rèn luyện của chúng tôi, nên kết quả đem lại rất tốt. Trước khi về nước Bạn trang bị cho chúng tôi đủ chăn màn và hai bộ quân phục kiểu Việt Nam và trang bị đủ súng đạn cho một đại đội bộ binh mạnh. Chấp hành chủ trương của Ban chỉ huy đội, mỗi anh em chúng tôi chỉ mang đủ quân trang cần thiết, gọn nhẹ, để toàn đơn vị có thể mang hết tất cả số súng đạn mà Bạn giúp để đưa vể nước.
Chúng tôi trở về trường lúc đó đã chuyển lên Làng Cỏ, cũng là lúc Bộ có chủ trương giải thể và đưa anh em Thuỷ quân về các đơn vị (một số sang pháo binh, về Bộ Tổng Tham mưu, về quân khu Việt Bắc), còn đại bộ phận của Đội 71 được đưa ra vùng Duyên hải (Quảng Yên, Hồng Gai và tỉnh Hải Ninh), để tham gia chiến đấu và xây dựng các cơ sở du kích vùng biển, dưới sự chỉ huy của các tỉnh đội. Trong số gần ba chục cán bộ về Quảng Yên trong đó có đồng chí Tuần, đồng chí Hợi và tôi được điều về công tác ở ban tham mưu của tỉnh đội. Sau đó tôi được ban chỉ huy đại đội 915 giao nhiệm vụ đưa một trung đội về hoạt động vũ trang tuyên truyền, xây dựng cơ sở du kích ở ngoại vi thị xã Quảng Yên. Để thi hành nhiệm vụ được giao từ Cát Hải, tôi bắt liên lạc và bám theo đường dây về thị xã, thị sát trước và chọn hai thôn Bùi Xá và La Khê nằm ven biển thuộc xã Tiền An làm địa bàn hoạt động. Sau đó tôi quay trở lại Cát Hải để đón đơn vị, khi đến Tuần Châu trong lúc chờ đò qua lạch biểu thì gặp một đơn vị địch đi tuần tra vành đai trắng phát hiện. Đồng chí dẫn đường bị chúng bắn chết, còn tôi chạy trốn cố thủ ở một đồi rậm. Khi địch tưới xăng đốt, tôi vọt lao ra, ném lại quả lựu đạn về phía hai tên đuổi theo thì bị chúng bắn bị thương, tôi vừa kịp vùi giấy tờ dưới cỏ thì bị bắt. Sau hơn một tháng qua hai phòng nhì (Quảng Yên và Hải Phòng) hỏi cung và tra khảo không khai thác được gì hơn, địch lập cho tôi phích tù màu trắng với tên khai của tôi là Nguyễn Văn Ca, rồi đưa xuống giam ở căng (camp) Đoàn Xá - Hải Phòng, mang áo tù binh có chữ PG (Prisonnier de guerre). Sang đầu năm 1953, tôi cùng một số anh em tù binh ở sàn 4 đào hầm trốn, bị lộ, địch đưa chúng tôi sang Lào giam ở căng tù Savanakhet. Mùa hè năm ấy tôi cùng hai bạn tù lại rủ nhau trốn trại, nhưng không thoát vì sau 4 ngày lùng sục địch lại bắt được chúng tôi và chuyển sang giam ở căng Séno, quản lý chặt chẽ hơn. Đến đầu năm 1954, nhân dịp bị địch điều đi đào công sự ở thượng Lào, tôi đã thừa cơ trốn thoát. Trở lại Việt Nam, tôi về đoàn 77 và sau tham gia phục vụ chiến dịch Điện Biên Phủ.
Sau chỉnh huấn năm 1955, tôi được chuyển ngành. Trước khi nhận nhiệm vụ mới, tôi xin nghỉ phép về thăm quê và lo việc chuyển mộ mẹ tôi từ ven biển Đông Linh về bản quán ở xã Yên Cư thuộc huyện Hoành Bồ tỉnh Quảng Ninh. Thế là nỗi băn khăn day dứt vì thương xót mẹ trong nhiều năm của tôi đến đây đã được nguôi vợi vì tôi đã lo được cho mẹ tôi có mồ yên mả đẹp tại quê nhà.
Từ sau khi chuyển ngành tôi đã liên tục tham gia công tác tại 3 đơn vị ở Hà Nội là Bệnh viện Trung ương của Bộ y tế, Tổng công ty Xăng dầu và Tổng công ty Xuất nhập khẩu hàng dệt (Textimex) và đã nghỉ hưu ngày 1/4/1991.
Điểm lại 45 năm qua, tôi đã tham gia công tác ở nhiều đơn vị, đã hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao và ở đâu tôi cũng được tập thể và bạn bè, đồng đội yêu mến, chăm sóc giúp đỡ tận tình. Song nơi đã để lại cho tôi nhiều ấn tượng sâu sắc, nhiều ấn tượng đẹp nhất vẫn là trường Thuỷ quân, không những vì ở đây tôi đã được huấn luyện, rèn luyện tạo dựng được một nếp sống và làm việc hăng say, tươi trẻ vì tinh thần tự nguyện vì sự nghiệp chung của một lớp thanh niên đang trưởng thành trong cao trào cách mạng, mà còn thắm đượm tình nghĩa yêu thượng cán binh, đồng đội. Bởi vậy sau nhiều năm xa cách tôi không thể nào quên những hình ảnh tươi đẹp thân thương của những ngày phố Giàn, làng Cỏ, cũng như những ngày sóng gió ân tình ấy trên đảo Điều Thuận (Tsékham).
Với tình cảm sâu đậm ấy, nay về nghỉ hưu được gặp những anh, chị em cán bộ và đồng đội cũ của trường Thuỷ quân sông Lô để cùng nhau gắn bó, đối với tôi là niềm vinh dự và hạnh phúc lớn lao vô cùng.



