NHỚ MÃI MỘT THỜI HOA LỬA: TỪ NGỌN LỬA NĂM XƯA ĐẾN NGỌN LỬA HÔM NAY. CÂU CHUYỆN VỀ BÀ – NGƯỜI GIỮ LỬA, TRUYỀN LỬA TRUYỀN THỐNG CÁCH MẠNG

Buổi sáng một ngày tháng 7, tôi và các đoàn viên trong chi đoàn giáo viên cùng các cán bộ, một số thầy cô giáo của trường THCS Nguyễn Chí Thanh, trường tiểu học Trần Phú và các em học sinh trong xã Hòa Xuân, tỉnh Đắk Lắk được phân công đến thăm hỏi, động viên các gia đình chính sách – những người đã cống hiến, hy sinh cho độc lập, tự do của Tổ quốc. Tôi vinh dự được đến thăm và trò chuyện với gia đình bà Lê Thị Phượng, một gia đình có truyền thống cách mạng tiêu biểu của địa phương, và bà- một người phụ nữ bình dị mà anh hùng, người đã dành trọn tuổi xuân cho kháng chiến. Trong căn nhà nhỏ đơn sơ, nghe bà kể về truyền thống cách mạng của gia đình, tôi không khỏi xúc động và bồi hồi trước những ký ức một thời hoa lửa.
Bước vào ngôi nhà nhỏ giản dị giữa vườn cây lặng lẽ, tôi cảm nhận ngay sự ấm áp và tĩnh lặng pha lẫn nét trang trọng. Bà Phượng, tóc đã điểm sương, ánh mắt vẫn rực sáng, mời chúng tôi ngồi bên khung cửa sổ nhìn ra khoảng sân rộng – nơi từng vang tiếng bước chân của một thời hoa đỏ. Khi bà bắt đầu kể lại hành trình của mình và gia đình, tôi không khỏi lắng lòng trước câu chuyện sống động của tuổi trẻ cách mạng, của người cha – liệt sĩ, của người mẹ giao liên và của chính bà từng giữ vững tinh thần, xông pha cùng cách mạng.
Bà Phượng - bằng nụ cười hiền hậu, đôi mắt đã mờ theo năm tháng, nhưng giọng kể vẫn vang lên rành rọt, chan chứa tự hào. Bà chậm rãi mở đầu câu chuyện bằng hai tiếng “ngày xưa” – hai tiếng gợi lên cả một trời ký ức.
Gia đình bà Phượng là một trong những mái nhà mà lịch sử cách mạng ghi dấu sâu đậm. Cha bà – ông Lê Xuân Dục – là cán bộ thông tin xã, người trực tiếp đảm nhận việc truyền tin, thông liên trong những năm tháng đầy cam go của cuộc kháng chiến. Nhiệm vụ nặng nề, nguy hiểm, nhưng ông kiên trung bám trụ. Năm 1963, ông đã anh dũng hy sinh khi đang làm nhiệm vụ – trong lòng đồng đội, gia đình còn tràn ngập nỗi nhớ và niềm tự hào, ông đã bỏ lại người vợ hiền cùng đàn con thơ. Mẹ bà – một người phụ nữ kiên cường – đã đảm nhận vai trò giao liên, bà lặng lẽ vận chuyển tin tức, tiếp ứng cho bộ đội, không quản nguy hiểm trước kẻ thù. Bà Phượng kể lại ánh mắt mẹ khi bị bắt – ánh mắt không cúi đầu trước gian khổ, ánh mắt như nói lên sức mạnh của ý chí cách mạng. Và bà – từ khi mới 17 tuổi đã tham gia du kích. Bà kể: “Lúc ấy trẻ lắm, trái tim nóng, cả tuổi trẻ tôi như được hòa vào một dòng chảy lớn của dân tộc.” Bà tham gia đào hầm, vót chông, vận chuyển đạn dược vào Vũng Rô – nơi những chuyến tàu không số lặng lẽ cập bến giữa lòng địch, đưa vũ khí chi viện cho miền Nam và Tây Nguyên. Bà và đồng đội đã “miệt mài với công việc” trong những năm tháng tuổi trẻ ấy – đến lúc bà 25 tuổi vẫn giữ vững nhiệm vụ.Tôi hình dung cảnh bà – người thanh niên gái trẻ trong bộ quân phục du kích, dưới ánh trăng, tay bốc từng túi đạn, bước chân nhẹ nhàng vượt qua ngày mưa bom đạn. Tôi có thể tưởng tượng ra hình ảnh cô gái trẻ năm nào, vai đeo súng, chân lấm bùn, ánh mắt sáng rực niềm tin vào ngày chiến thắng.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Bà dừng lại, đôi mắt nhìn xa xăm. Tôi thấy trong ánh mắt ấy có niềm tự hào xen lẫn nỗi buồn – tự hào vì đất nước đã hòa bình, buồn vì nhiều đồng đội của bà đã mãi mãi nằm lại nơi chiến trường xưa. Tôi thấy ngôi nhà nhỏ của bà hôm nay – giản dị nhưng chứa đầy tự hào – như một minh chứng sống về sự hy sinh, về truyền thống gia đình. Khi bà kể, giọng bà trầm lắng nhưng rõ ràng: “Tuổi trẻ chúng tôi không nghĩ nhiều cho mình, chỉ nghĩ làm sao góp một phần nhỏ để đất nước được tự do.” Câu chuyện của bà không chỉ là những mẩu ký ức riêng tư, mà là bản hùng ca của cả một thế hệ – thế hệ sẵn sàng hy sinh tất cả vì Tổ quốc.
Ngồi nghe bà kể, tôi thấm thía giá trị của hòa bình hôm nay – vốn được xây bằng mồ hôi, xương máu của biết bao thế hệ. Tôi nhìn ngắm những tấm bằng khen, những chiếc ảnh cũ, trên bàn – hình cha bà trong bộ quân phục, hình mẹ bà giao liên trên cánh rừng, hình bà trẻ trung bên đồng đội. Mỗi bức ảnh như gói ghém một thời khắc lịch sử. Tôi chợt nhớ tới huyền thoại bến Vũng Rô – nơi mà những chuyến tàu không số đã vượt qua muôn vàn thử thách để đến được với chiến trường.
Cuộc trò chuyện hôm ấy không chỉ là nghe kể, mà như một buổi học giáo dục truyền thống cách mạng sâu sắc. Trong ánh mắt bà Phượng, tôi thấy cả lòng quyết tâm, sự giản dị nhưng vững vàng. Giữa lời kể, tôi đã lưu giữ mãi trong lòng hình ảnh bà – người thanh niên du kích ngày ấy – nay tóc đã bạc nhưng vẫn tràn đầy niềm tin.
Giờ đây, sau những năm tháng băng rừng, gánh đạn, vượt suối để làm nhiệm vụ du kích đã để lại trong bà nhiều vết thương không thể nào lành hẳn. Giờ đây, ở tuổi ngoài tám mươi, sức khỏe của bà đã yếu, đôi chân từng hai lần bị gãy mỗi khi trái gió trở trời lại đau nhức, khiến việc đi lại vô cùng khó khăn. Dẫu vậy, bà vẫn giữ tinh thần lạc quan, ngày ngày chăm chút mảnh vườn nhỏ, sống bình dị trong căn nhà cấp bốn cũ kỹ. Bà chỉ mong được Nhà nước và chính quyền xã Hòa Xuân, tỉnh Đắk Lắk quan tâm, hỗ trợ nhiều hơn để tuổi già bớt nhọc nhằn, để những người như bà – những nhân chứng sống của lịch sử – được an vui trong những năm tháng cuối đời


