NHỚ MÃI TRẬN CHIẾN ĐẤU OAI HÙNG TRÊN ĐỒI ĐỘC LẬP
Tiếp nối chiến thắng Him Lam, trận đánh đồi Độc Lập hiện lên qua lời kể của người chỉ huy Đại đội 225 như một cuộc đối đầu nghẹt thở giữa ý chí sắt đá của quân ta và hỏa lực tàn khốc của kẻ thù. Giữa màn mưa tầm tã, bùn lầy quánh chặt bước chân, các chiến sĩ Trung đoàn 88 (Đại đoàn 308) và Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) đã phải chịu đựng hàng giờ liền pháo kích dữ dội của địch trước khi giáng đòn sấm sét vào lúc 3 giờ 30 phút sáng. Đoạn hồi ức khắc họa sâu sắc những giây phút cam go khi quân ta h
Tôi có may mắn được tham dự trực tiếp nhiều trận đánh suốt chiều dài chiến dịch Điện Biên Phủ, kể từ khi mở đầu đến ngày kết thúc thắng lợi.
Ngày nay, tuy tuổi đã cao, thời gian đã xa, nhưng ký ức vẫn còn giữ lại được nguyên vẹn những sự kiện, hình ảnh, các kỷ niệm sâu đậm trên chiến trường, những tình cảm xúc động đối với các đồng đội đã anh dũng hy sinh trên chiến trường ngày ấy.
Tôi nhớ mãi trận chiến đấu anh hùng và ác liệt của đơn vị chúng tôi trên cứ điểm đồi Độc Lập ngày 15 tháng 3 năm 1954.
Ngày 13 tháng 3 năm 1954, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ bắt đầu. Trước giờ ra trận, bộ đội được nghe đọc “thư của Hồ Chủ tịch gửi toàn thể cán bộ, chiến sĩ Điện Biên Phủ”. Tiếp đó nghe lệnh động viên của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Kiên quyết tiêu diệt toàn bộ quân địch tại Điện Biên Phủ!”.
Toàn thể chiến sĩ đại đội tôi vô cùng xúc động, người người bừng bừng khí thế tiến công, tình cảm phấn khích xen lẫn vinh dự và trách nhiệm nặng nề... Bộ đội đã được tiếp thêm nguồn sinh lực mới! Sẵn sàng chiến đấu, hy sinh.
Sau chiến thắng Him Lam, đêm 14 rạng sáng ngày 15 tháng 3 năm 1954, Trung đoàn 88 vinh dự nhận nhiệm vụ đánh trận đầu tiên của Đại đoàn 308 nhằm tiêu diệt cụm cứ điểm Độc Lập với sự phối hợp của Trung đoàn 165 (Đại đoàn 312) dưới sự chi viện hỏa lực của hai đại đội lựu pháo 105 ly thuộc Đại đoàn 351.
Đồi Độc Lập dài 700 mét, rộng 150 mét ở phía bắc trung tâm Mường Thanh 4km, có hệ thống lô cốt và chiến hào vững chắc, hàng rào dây thép gai bao bọc dày trên 100 mét, do tiểu đoàn 5, trung đoàn 7 bộ binh thuộc địa An-giê-ri, một đại đội người Pháp cùng một đại đội lính Thái chiếm giữ, được tăng cường 4 súng cối 120 ly và được pháo binh ở Mường Thanh - Hồng Cúm chi viện mạnh. Có thể xem đây là: “Cánh cửa thép phía bắc của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ”.
15 giờ ngày 14 tháng 3 năm 1954, ta đã hoàn tất việc đào giao thông hào để tiến quân, điểm gần nhất đã tới cách địch 150 mét.
- Tiểu đoàn 29 được giao nhiệm vụ làm mũi đột kích chủ yếu của Trung đoàn 88, có Tiểu đoàn 322 làm đội dự bị.
- Đại đội Tô Văn là mũi nhọn của Tiểu đoàn 29.
- Đại đội 225 (do tôi chỉ huy) là đội xung kích - bộc phá của Tiểu đoàn 322.
17 giờ, lựu pháo 105 của ta bắn vào khu đồi Độc Lập, lập tức địch ở Mường Thanh bắn trả lại. Sự việc này tiếp diễn đến nửa đêm và lựu pháo của ta phải bắn kéo dài để chờ sơn pháo 75 ly và cối 120 đến. Do vậy, bộ đội ta phải chịu đựng nhiều đợt pháo 105 ly và 155 ly của địch dội xuống trận địa trong nhiều giờ liền. Trời mưa như trút nước, hào giao thông ngập nước, bùn quánh lại, di chuyển rất khó khăn... Sau khi sơn pháo 75 ly và cối 120 ly chiếm lĩnh xong trận địa, 3 giờ 15 phút sáng ngày 15 tháng 3, lệnh của Chỉ huy trưởng truyền xuống:
- Chuẩn bị! Lựu pháo sẽ bắn dồn dập thêm một loạt nữa. Hỏa lực các đơn vị phải phối hợp. Sau 15 phút, xung kích tranh thủ “mở cửa”. Đúng 3 giờ 30 phút, nổ súng!
Và đúng 3 giờ 30 phút, từ phía đông pháo 105 ly đã gầm lên, trút bão lửa xuống đồi Độc Lập. Ở tuyến hỏa lực bắn trực tiếp, cách đồn địch dưới 100 mét, mười khẩu đội Bazôka đồng loạt phóng đạn lõm vào các hỏa điểm địch; 9 khẩu ĐKZ cùng 6 khẩu đại liên Mắcxim cùng bắn thẳng vào cứ điểm.
Các ổ súng địch đã câm họng. Tuyến đề kháng vòng ngoài của địch bị tê liệt. Thời điểm đột phá thật thuận lợi. Mệnh lệnh xung phong phát ra!
Ngay lập tức mũi nhọn xung kích của Đại đội Tô Văn đã xông lên, đặt quả bộc phá hàng rào thứ nhất. Lần lượt các chiến sĩ Nguyễn Bá Tuệ, Nguyễn Đàm cùng Nhị, Viên ôm bộc phá xông lên trận địa.
Sau khi tiểu đội trưởng Cấp hy sinh, Nguyễn Văn Ty đã nhanh chóng dẫn tiểu đội vượt lên. Chính Nguyễn Văn Ty là người đã chỉnh lại hướng mở của trận đánh, lần lượt đưa các chiến sĩ bộc phá của mình lao lên. Cả 11 chiến sĩ bộc phá đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Lô cốt địch đã hiện ra khá gần! Nhưng cũng là lúc quân ta hết bộc phá. Cả trận địa chìm lặng xuống.
Pháo binh địch tiếp tục dội bão lửa vào trận địa. Các cỡ súng còn lại trong đồn có dịp phục hồi, bắn mãnh liệt vào quân ta. Lúc này trung đội đột kích đã bị thương vong gần hết, cửa mở chưa thông mà bộc phá đã hết.
Bấy giờ theo lệnh của Trung đoàn, tôi dẫn đơn vị bộc phá của mình xông lên tiếp ứng, sáu chiến sĩ bộc phá liên tục lao lên đánh 6 quả nổ giòn, đã vào gần lô cốt 6 mét. Trong lô cốt một khẩu đại liên còn sống sót điên cuồng bắn loạn xạ. Chiến sĩ bộc phá chúng tôi đánh tiếp quả thứ 7 rồi thứ 8, hàng rào dây thép gai trước lô cốt chỉ còn 2 mét.
Tôi hô to: “Đường đã mở xong! Các đồng chí tiến lên!”.
Nhưng pháo địch bắn chặn ác liệt, chưa một ai có thể vượt lên. Chính ủy Trung đoàn gọi điện về Bộ Chỉ huy mặt trận yêu cầu lựu pháo chế áp pháo địch ở Mường Thanh; sau đó là một trận đấu pháo dữ dội diễn ra làm rung chuyển cả thung lũng Mường Thanh.
10 phút sau, mệnh lệnh được phát ra, các chiến sĩ xung kích lại nhất tề vùng dậy xông thẳng vào đồn giặc, phối hợp cùng Trung đoàn 165 tiêu diệt sở chỉ huy địch. Bấy giờ, quân địch cho một tiểu đoàn lính dù tinh nhuệ cùng 5 xe tăng từ Mường Thanh ra ứng cứu. Chúng tổ chức một đợt phản xung phong quyết liệt hòng đẩy quân ta ra để chiếm lại đồn. Nhưng với quyết tâm cao và khí thế quyết chiến quyết thắng, các mũi xung kích đã vào được trung tâm. Đại đội Tô Văn xông vào bắt sống tên quan tư Méc-cơn-nem.
Đúng 6 giờ 30 phút ngày 15 tháng 3 năm 1954, quân của Đại đoàn 308 và Đại đoàn 312 đã tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm đồi Độc Lập. Hơn 600 quân địch bị tiêu diệt và bị bắt.
Đại đội 225 của chúng tôi đã sát cánh cùng Đại đội Tô Văn trong những giờ phút cam go hiểm nghèo, cuối cùng đã giành được chiến thắng vẻ vang.
Ngay sau đó, Đại đội 225 tiếp tục tham gia những trận đánh chống phản kích suốt trong 3 ngày 16, 17, 18 tháng 3 năm 1954 của quân Âu Phi ra phản kích với lực lượng chi viện của hỏa pháo và xe tăng. Nhưng bộ đội chúng ta đã anh dũng đập tan ý đồ ứng cứu của địch.
Sau những ngày đó là việc thu dọn chiến trường, giải quyết thương binh, tử sĩ. Công việc này vô cùng vất vả, nếu không có dũng khí can trường, tình cảm đồng chí, đồng đội, thì khó mà hoàn thành chu đáo nhiệm vụ.



