NHỚ MÃI XA LA VÔNG
Sau hai năm giúp bạn Lào đánh đuổi bọn phỉ Vàng Pao cùng ngụy Viên Chăn ra khỏi Cánh Đồng Chum (Xiêng Khoảng), đơn vị chúng tôi (Trung đoàn 174, sư 316) giao lại chốt cho bạn rồi rút ra thị trấn Khang Khay để củng cố.
Rừng ban đã rụng hết lá, xuân đến thi nhau đơm những nụ hoa trắng muốt. Trên ngọn thông già phơ phất những mảnh dù trắng của địch còn sót lại. Hiệp định Viên Chăn đã có hiệu lực, hoà bình đã trở lại trên đất nước Triệu Voi. Những căn nhà sàn, nhà đất lợp cỏ tranh dựng sát nhau kề bên quốc lộ tạo nên cái phố nhỏ: Thị trấn Khang Khay. Những lá cờ có hình trăng tròn ở giữa tung bay trên những nóc nhà của thị trấn. Bà mẹ Bản Ban đã về dựng nhà kề bên thị trấn. Mẹ đã may được bộ váy áo mới, viền váy có thêu hoa văn như những bộ váy áo của các cô gái Lào. Mẹ đã tìm được mộ chồng cùng mộ con trai và đã nhận lại con gái mà bà con nuôi hộ giờ đã thành cô gái, trông mẹ vui và khoẻ ra nhiều.
Dân bản đón chúng tôi như những người thân trở về, nhà nào cũng mời bằng được bộ đội đến thăm nhà và hễ đến là được mời cơm rượu. Cơm nếp ở đây được các mẹ, các cô gái đồ thật khéo, thật dẻo. Xôi được nắm thành từng nắm nhỏ, đựng trong chiếc “ép khảu”, khách chỉ việc cầm ăn, chấm với gia vị muối ớt, gọi là “Chin khảu chầm cheo”. Mỗi nhà dựng một chòi giữa nương hay phần ruộng của mình. Trong chòi để thóc lúa, rượu gạo, thức ăn, hết lại ra lấy, chả ai lấy nhầm của ai bao giờ.
Do có chút vốn liếng về tiếng Lào, nên đơn vị thường cử anh em chúng tôi vào bản để quan hệ tiếp xúc với dân, từ việc mua thực phẩm đến việc giúp dân dựng nhà, sửa đường, dựng lớp học. Các Nai tà xẻng (Chủ tịch xã) đón tiếp chúng tôi cởi mở, thân tình như con em trong nhà vậy. Có lần Nai tà xẻng thị trấn Khang Khay vỗ vai tôi:
- Ở đây làm rể Lào nhé, để tôi làm mối và tổ chức đám cưới cho!
Tôi chỉ biết vò đầu bứt tai mà thưa:
- Chúng con chỉ sợ các noọng sjao Lào chê bộ đội sốt rét nhiều, không lấy thôi!
- Hôm nào tôi giới thiệu cháu Xa La Vông cho anh, xinh nhất Khang Khay này đấy! Nhà chỉ có hai mẹ con thôi.
Chả nhẽ La Vông là con của mẹ Bản Ban năm nào....
Thị trấn Khang Khay tuy nhỏ, nhưng chỉ mới vài tháng sống trong hoà bình mà dân bản lánh giặc xưa kia giờ đã trở về khá đông đúc. Những căn nhà sàn, nhà đất lợp cỏ gianh dựng san sát nhau. Cỏ gianh ở đây được mọi người cắt về phơi khô treo lên từng túm .Các cô gái dùng cây vót nhọn làm lược chải, việc đánh gianh cần một hom dùng dây quấn rất cầu kỳ và đẹp. Những tấm gianh được các cô gái Lào dệt đưa lên mái, không cần mè, buộc luôn vào dui, hàng nối hàng tăm tắp, tạo nên những mái nhà xinh xắn riêng có của đất nước Triệu Voi.
Chúng tôi thường hay đến thăm bà mẹ hồi gặp ở cửa rừng - mẹ Bản Ban - giờ mẹ cũng về sống ở thị trấn Khang Khay gần Bản Ban này. Xa La Vông nghe tiếng tôi nói cùng mẹ ngoài ngõ, cô ào ra, chắc đang nấu rượu bên bếp ra nên đôi má cô ửng đỏ. Mới vài tháng, nay gặp lại, Xa La Vông rực rỡ như một nàng tiên trong bộ váy áo của người Lào Lum.
Lần đầu biết Xa La Vông là hôm tôi cùng Trần Hùng được đơn vị cử đi đón xe gạo vượt cầu Khang Khay, ở đó đã có một tổ các nữ du kích bạn giúp đỡ. Cầu Khang Khay ngắn, chỉ dài gần bốn sải tay bắc qua con suối nhỏ trước khi vượt Cánh Đồng Chum để vào các chốt của đơn vị. Chiều ấy, tôi cùng Hùng kiểm tra lại cầu, thấy an toàn, đang loay hoay tìm chỗ đào lấy chiếc hầm trú ẩn để canh gác chờ xe qua, bỗng máy bay địch ào đến, chúng chúc đầu xuống chỗ chúng tôi mà trút bom. Trong khói bom mù mịt, đất cát bay rào rào, cả hai chúng tôi được hai cô gái Lào kéo vào chiếc hầm mà các cô đã đào tự bao giờ. Sau loạt bom, chúng tôi ra khỏi hầm thì chiếc cầu đã bị bom hất đi đâu mất. Đang lúng túng chưa biết khắc phục ra sao thì có tiếng xe tải của ta sắp đến chỗ cầu. Đúng là xe chở gạo thật. Những hai xe Din ba cầu, chất đầy gạo và lá nguỵ trang. Nhớ đến trung đoàn ở Tây Cánh Đồng Chum đã cả tuần nay chỉ có bánh luơng khô nấu cùng nõn chuối rừng mà giữ chốt, giờ được hai xe gạo là sống rồi. Nhưng cầu bị bom phá mất, biết làm sao. Chần chừ, lúc nữa lũ “con ma” quay lại thì cả hai xe gạo cũng đi tong. Bỗng hai cô gái Lào nữa xuất hiện. Chúng tôi chụm đầu vào hội ý chớp nhoáng. Chiếc xe gạo đi đầu quay đầu xe, lùi đến chỗ chiếc cầu vừa bị bom làm bay mất mà trút cả xe đầy những bao tải gạo xuống đó. Chiếc xe thứ hai vượt qua có cả mười hai đôi tay của bốn cô gái Lào và hai chúng tôi cùng xúm vào đẩy. Xe gạo vượt qua. Chiếc xe không cũng ào qua rồi đứng lại. Chúng tôi cùng lội xuống bùn mà moi từng bao gạo để khiêng lên xe. Trời đã tối hẳn, nửa xe gạo cùng bùn ở lòng suối nhão nhoét, không vớt lên nổi. Thôi xe phải lên đường, kẻo lúc nữa lại dính toạ độ của lũ B57 trút bom xuống Cánh Đồng Chum. Chả biết mệt và đói, cùng bốn cô gái Lào, chúng tôi bắc lại xong cầu thì trăng cuối tháng cũng vừa lên. Bỗng có tiếng ì ì rất nặng trên đầu rồi tiếng rít của bom toạ độ. Chúng tôi lao vào hầm. Sau loạt bom nổ, chúng tôi vọt ra. May quá cầu vẫn còn nguyên. Nhưng Trần Hùng và cô gái nữa cùng hầm không thấy đâu. Bị bom vùi hầm rồi- linh tính người lính trận mạc mách cho tôi điều đó. Tôi cùng ba cô gái Lào bới mãi mới tìm được Hùng và cô gái Lào ấy. Bới được hai người lên, chúng tôi cứ ghé tai Hùng và người con gái Lào mà gào mà lay gọi. Khuôn mặt hai người vẫn tươi roi rói mà trái tim đã ngừng đập. Chôn cất hai bạn xong, một cô gái Lào chỉ vào bắp chân phải rớm máu của tôi, cô nói tiếng Lào: Ải chếp tin lai bấu?... (Anh đau chân lắm không?...). Vì công việc diễn ra chóng vánh quá, lại quá đau xót với đồng đội, chắc chỉ đất đá lúc bom nổ bắn vào cẳng chân phải của tôi, giờ mới thấy đau nhói, bước đi không muốn nổi chỉ chực khụy xuống, đất trời quanh tôi quay tít. Khi tỉnh lại, tôi thấy mình đang nằm trong căn nhà lá giữa rừng thông. Cô gái Lào lúc ở Cầu Khang Khay đang chườm thuốc nơi bắp chân phải cứng đơ, nặng trịch của tôi. Tôi vịn vào hàng rào tập đi chực ngã, cô gái đưa bờ vai cho tôi vịn, có bờ vai để vịn tôi tự tin hơn, bước chắc chắn hơn. Gần tháng, chân lành, tôi tạm biệt bố mẹ cùng cô gái Lào. Tôi chỉ biết chắp tay: Khóp chay pó mé, khóp chay noọng sjao Xa La Vông lai…! (Cảm ơn bố mẹ, cảm ơn em gái Xa La Vông nhiều lắm…!) rồi ra đường nơi cầu Khang Khay để đón xe về đơn vị ở Tây Cánh Đồng Chum. Xa La Vông tiễn tôi ra tận cầu Khang Khay, em cùng tôi đến mộ Trần Hùng và cô gái Lào, hai chúng cùng cúi vái người đồng đội và cô gái Lào nằm cạnh nhau. Em kể mà mắt đẫm lệ: em bị lạc mẹ, nhà anh đến nghỉ đắp thuốc là nhà bố mẹ đã đón em về nuôi. Tôi hứa sẽ tìm mẹ giúp em, em Khóp chay (cảm ơn) tôi đến ba lần. Đợi cả nửa buổi mới có xe vào, lúc tôi lên xe, em đưa tay lên vẫy mãi.
Dịp đón tết Bun Pi May (Tết năm mới của Lào) vừa rồi, tôi được dân bản cùng Xa La Vông mời múa lăm vông. Quanh những đống lửa đốt lên cạnh những chiếc chum đá, đi theo tiếng trống bập bùng, tay đưa bên tay, mắt nhìn vào mắt, khuôn mặt Xa La Vông như nửa vầng trăng lấp ló, mái tóc cài bông hoa chăm pa ngan ngát hương. Bất giác tôi nhìn về phía tây Cánh Đồng Chum nhớ đến bao đồng đội ngã xuống nằm lại nơi cửa rừng, vội quay đi lau nước mắt. Lần gặp mới nhất với Xa La Vông là dịp Bun Hót Nặm gần chiếc cầu bom đánh năm trước ở gần thị trấn Khang Khay này. Chúng tôi cứ đứng nguyên để các cô té nước vào người ướt từ đầu đến chân. Rồi đến lượt chúng tôi vục nước té lại các cô, váy áo cũng ướt hết. Chúng tôi vui sướng vì được tưới tắm cái mát lành cho nhau trong ngày vui cổ truyền khi đất nước hoa Chăm Pa đã hết bóng thù.
Mẹ Bản Ban lần ấy đã chúc phúc, buộc chỉ vào cổ tay chúng tôi. Bà đặt tên cho tôi là Khăm Thương Lai. Cái tên ải Khăm Thương Lai mà Xa La Vông hay gọi nghe quen như một thành viên trong gia đình của mẹ Bản Ban vậy.
Đơn vị bước vào huấn luyện khẩn trương để chuẩn bị về nước nhận nhiệm vụ mới. Bẵng bốn tháng không được ra thăm mẹ Bản Ban, thăm em Xa La Vông ở thị trấn Khang Khay.
Một chiều thứ bảy. Mẹ của Xa La Vông ra tận đơn vị xin phép đón tôi lại nhà chơi, nói em Xa La Vông vừa theo học lớp y tá ngắn hạn ở Việt Nam về. Xa La Vông ra tận cổng nhà đón tôi. Thấy Xa La Vông mặt tươi như hoa, tôi chào em bằng tiếng Việt, nhưng em chỉ lắc đầu và nói tiếng Lào với tôi (Chắc em muốn thử xem tôi đã nói được nhiều tiếng Lào chưa). Xa La Vông rất vui, sôi nổi và nhanh nhẹn hẳn ra. Mẹ của Xa La Vông mời tôi ở lại ăn bữa tối vì em mới đi xa về. Đã lâu không uống rượu, nay được mẹ cùng Xa La Vông mời, chối mãi, phải nhấp từng tý một rồi cũng hết gần bát rượu lúc nào không biết. Biết tôi chếnh choáng, mẹ của Xa La Vông không cho về và thu dọn chỗ ngủ cho tôi.
Tiết trời tháng ba rồi mà về đêm vẫn còn se lạnh. Trăng cuối tháng trải khắp sân nhà. Sương nhè nhẹ rơi trên mái gianh. Tôi thiếp đi lúc nào không biết.
… Cùng mấy anh em trong đơn vị tôi được đi chuyến máy bay từ Bun Sa Vẳn ra Hà Nội. Từ Hà Nội lại ngồi trên chuyến tàu tốc hành lên Yên Bái. Chiếc tàu thuỷ đưa tôi vượt hồ Thác Bà về chân núi Ngàng quê tôi. Mùa gặt, cánh đồng như tấm thảm vàng trải dài theo chân núi. Bước theo bờ ruộng còn thơm mùi rơm rạ, cả nhà tôi ùa ra đón, tất cả mừng rỡ sau bao năm biền biệt xa cách. Khi tay đã cầm tay, bỗng em gái rồi cả người yêu mình nữa bỗng oà khóc. Ơ, anh chỉ vài bận bị sức ép bom, người có sao đâu! Làng xóm, bố mẹ các em đều mạnh khoẻ, vẹn nguyên cả. Mà ơ kìa, lại cả Xa La Vông nữa, em đến đây bao giờ, mà sao em trên tay cầm những bông hoa chăm pa đến cho anh, quê anh gọi là hoa đại mà. Vài cánh cò trắng vẫy vẫy bay mải miết về phía núi Mông Sơn…
Con gà trống vỗ cánh “pộp... pộp...” cất tiếng gáy sang canh tôi mới choàng tỉnh giấc. Mình đang nằm trên gối đệm. Cạnh đó mẹ Bản Ban đang thiêm thiếp. Trăng sắp lặn, rọi chiếu vào nơi tôi đang nằm. Vài sợi tóc dài vương trên má. Tôi giật mình. Trời ơi! Xa La Vông nằm ngay cạnh tôi. Gối đầu em kê sát gối đầu tôi. Mà kìa, em vẫn thức, đôi mắt mở to chớp chớp, đôi vai trần, tấm khăn hồng vòng chéo từ vai qua ngực, hơi thở nhè nhẹ nồng ấm.
Nhớ lần trên chốt cùng anh hùng quân đội Đèo Văn Khổ, anh kể: Tục tiếp khách ở đây, nếu mình cùng trang lứa với con gái thì bố mẹ sẽ cho con gái tiếp chuyện. Nếu khách nghỉ lại qua đêm cũng thế. Họ quý mình, nhưng nếu mình lạm dụng thì họ chả bao giờ tin nữa.
Mẹ của Xa La Vông đã đặt tên cho mình, nhớ những lần đến nhà, mẹ bỏ đi làm cả buổi để mình nói được nhiều chuyện cùng Xa La Vông. Ánh mắt của Xa La Vông nhìn mình khác lắm. Mẹ đã buộc chỉ vào cổ tay cho mình, đã coi mình là anh của Xa La Vông, hay còn muốn hơn thế nữa.
- Anh Khăm Thương Lai vừa mơ gì thế?- Lúc này Xa La Vông mới nói tiếng Việt. Thì ra đi học lớp y tá ở Nghệ An, em đã học và nói khá sõi tiếng Việt, lại pha chút nhẹ nhàng của xứ Nghệ.
Tôi kể lại giấc mơ của tôi về quê, về hồ thuỷ điện Thác Bà, về di tích Đá Bàn nơi chủ tịch Xu Pha Nu Vông đã từng ở và làm việc ngay cạnh quê mình. Tôi dặn nàng có dịp nào sang Việt Nam nhớ thăm Thác Bà, thăm di tích Đá Bàn nơi quê tôi. Xa La Vông nói:
- Em nhớ rồi, nhớ từ hôm tiễn anh ra cầu Khang Khay, anh đã kể cho em nghe về căn nhà sàn, về mẹ anh lưng đã còng cũng mặc váy như người Lào, lúc ấy anh nói tiếng Lào chưa sõi lắm, đúng không. Nhưng anh Thương Lai à! Em ao ước được đến quê anh. Giờ em xin nói thật ý nghĩ của lòng em với anh nhé. Biết Khăm Thương Lai sắp về Việt, mẹ cùng Xa La Vông muốn Khăm Thương Lai ở đây có được không?- Giọng Xa La Vông tha thiết, nhẹ nhàng nói chỉ đủ cho mình tôi nghe. Đắn đo, ngập ngừng vì tấm lòng tốt của em, mãi rồi tôi cũng nói thành lời:
- Em Xa La Vông! Cảm ơn lòng tốt của em, cảm ơn mẹ cùng dân bản đã chở che giúp đỡ bộ đội tình nguyện đuổi hết giặc. Nay hoà bình rồi, Khăm Thương Lai cùng bộ đội phải về nước để nhận nhiệm vụ mới…
Đôi vai trần của Xa La Vông rung lên.
Trời đã hửng sáng. Tôi và Xa La Vông vẫn bình tĩnh giữ cái khoảng cách nho nhỏ trong sáng đó.
Chào mẹ Bản Ban.
Tạm biệt Xa La Vông. Tạm biệt một đất nước Lào cùng Xa La Vông xinh đẹp vẫn mãi trong tôi.


