Nhớ một thời hoa lửa
Một thời hoa lửa, bom đạn
UỶ BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG MỸ LỘC
ĐOÀN PHƯỜNG MỸ LỘC
BÀI VIẾT
“NHỮNG CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA”
I. Thông tin người viết bài
• Họ và tên: Trần Thị Tuyết Nhung
• Số điện thoại: 0354094293
• Email: trannhung141176@gmail.com
• Địa chỉ: 1/11/294 đường Kênh, phường Nam Định, tỉnh Ninh Bình
• Nghề nghiệp: Giáo viên
• Công tác: Trường Tiểu học Mỹ Tiến, phường Mỹ Lộc, tỉnh Ninh Bình
Nhớ một thời hoa lửa
Tháng Tư năm 1972, Quảng Trị đón chúng tôi bằng cái nắng như đổ lửa và tiếng đại bác gầm vang không ngớt từ phía bờ nam sông Thạch Hãn. Ở tuổi mười tám, bỏ lại sau lưng giảng đường đại học và tà áo trắng của Hà Nội, tôi bước vào chiến trường với chiếc ba lô con cóc sờn vai và một trái tim đầy kiêu hãnh. Thế hệ chúng tôi ngày ấy đi vào cuộc chiến nhẹ nhàng như đi hội, bởi trong lồng ngực đứa nào cũng rực cháy một ngọn lửa ước vọng hòa bình.
Đơn vị của tôi đóng quân trong một làng hầm bên dòng Thạch Hãn. Gọi là làng nhưng thực chất chỉ còn là những bức tường gạch vụn nát, đổ vỡ dưới sức cày xới của bom tọa độ. Sự sống rút hết xuống lòng đất. Dưới những căn hầm chữ A chật chội, ẩm ướt và khét lẹt mùi thuốc súng, chúng tôi chia nhau từng hớp nước ngầu bùn, từng lương khô ngấm nước mưa. Đêm Quảng Trị không bao giờ yên tĩnh. Bầu trời bị xé rách bởi những quầng sáng pháo sáng đỏ rực, soi rõ những khuôn mặt sạm đen vì khói súng nhưng ánh mắt thì sáng quắc.
Tôi nhớ nhất Vinh, người tiểu đội trưởng đồng hương Hải Phòng, hơn tôi hai tuổi nhưng già dặn như một người đàn ông từng trải. Vinh có nụ cười răng khểnh rất duyên và một giọng hát cao vút. Giữa hai trận đánh, khi tiếng bom vừa dứt và khói bụi còn chưa kịp tản, Vinh lại lôi từ trong bọc ni lông ra chiếc kèn harmonica móp méo. Giai điệu bài hát "Câu hò bên bến Hiền Lương" vang lên dưới lòng đất, len lỏi qua những kẽ hở của công sự, chạm vào góc thầm kín nhất trong lòng những người lính trẻ. Giây phút ấy, cái chết như lùi lại phía sau, chỉ còn tình đồng đội sưởi ấm cho nhau qua những mùa mưa bom bão đạn.
Trận chiến giành giật từng tấc đất ở Thành cổ bước vào giai đoạn khốc liệt nhất. Cao điểm bom đạn dội xuống như trút nước, mặt đất rung chuyển, nhào trộn giữa đất đá, sắt thép và cả máu xương. Trong một đợt phản kích dữ dội của địch, một quả pháo rót thẳng vào cửa hầm của tiểu đội. Tiếng nổ xé lòng hất tung tôi vào góc tối. Khi tỉnh dậy, tai tôi ù đặc, xung quanh mù mịt khói khét. Tôi bò dậy trong vô vọng, gạt lớp đất đá đổ nát để tìm đồng đội. Vinh nằm đó, ngực đẫm máu, hơi thở thoi thóp nhưng đôi mắt vẫn nhìn tôi bình thản. Anh thọc tay vào túi áo, trao cho tôi chiếc kèn harmonica đã dính máu và cuốn sổ nhật ký ép phẳng phiu: "Cầm lấy... sống và mang về cho mẹ anh...".
Vinh đi vào giấc ngủ ngàn thu ngay trên tay tôi, khi tuổi xuân còn đang phơi phới. Tôi không khóc, nước mắt đã lặn ngược vào trong, hóa thành một dòng năng lượng bỏng rát. Chúng tôi đã chôn cất anh và những người đồng đội khác ngay bên bờ sông Thạch Hãn, không một nén nhang, không một tấm bia trọn vẹn, chỉ có dòng nước đỏ ngầu phù sa ôm trọn lấy những thân xác thanh xuân.
Năm tháng qua đi, cuộc chiến lùi xa vào quá khứ, những vết thương trên da thịt đã lành miệng nhưng ký ức về thời hoa lửa ấy chưa bao giờ phai nhạt. Mỗi bận tháng Tư về, khi đứng trước dòng sông Thạch Hãn phẳng lặng như tờ, tôi lại nghe như có tiếng kèn harmonica của Vinh văng vẳng đâu đây. Máu của những người lính tuổi mười hai mươi đã hòa vào lòng đất mẹ, dệt nên sắc xanh bình yên của ngày hôm nay. Chúng tôi đã sống những năm tháng ngạo nghễ nhất, đẹp đẽ nhất và cũng đau thương nhất của một đời người.



