NHỚ NGÀY BÁC HỒ RA ĐI TÌM ĐƯỜNG CỨU NƯỚC
Nhân kỷ niệm 134 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2024), Ban Biên tập trân trọng giới thiệu bài viết “Nhớ ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước” của Đạo diễn Lê Vũ Hoàng.
Chuyến hành trình của chúng tôi khởi hành vào sáng ngày 5/6/2008 tại Bến cảng Nhà Rồng, thành phố Hồ Chí Minh - nơi có một chàng thanh niên yêu nước cách nay 113 năm đã bước xuống con tàu Latouche Treville tìm đường cứu nước vào ngày 5/6/1911. Chúng tôi lần theo những bước chân vạn dặm với cái nhìn thực tế sẽ góp phần vẽ nên nhân cách của một Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất được các trí thức và nhân dân trên thế giới ngợi ca.
Cách đây hơn một thế kỷ (ngày 5/6/1911) khi nhân dân trên thế giới còn quằn quại dưới gót giày hung bạo của các cường quốc thực dân chà đạp lên nhân phẩm, bóc lột con người cần lao trên khắp thế giới, thì ở Phương Đông xa xôi có một thanh niên dáng mảnh khảnh, với đôi mắt sáng rực đã tự tin vào khả năng của mình bước đi trên con tàu Latouche Treville tìm đường cứu nước, giải phóng cho dân tộc.
Đó là chàng thanh niên Văn Ba khi mới 21 tuổi làm phụ bếp trên con tàu nầy, lênh đênh, vượt sóng trùng khơi rời cảng Nhà Rồng đến nơi đầu tiên là Cảng CamBel (Singgapor), Cảng Srilanka, vượt biển Ấn Độ Dương vào Vịnh Aden đến Biển Hồng Hải qua Địa trung Hải cập Cảng Port Said (Ai Cập), Cảng Marseille, đích đến cuối cùng của chuyến hải trình con tàu Latouche Treville là Cảng La Havre miền Tây Bắc nước Pháp. Văn Ba rời con tàu, đặt chân đầu tiên trên đất Pháp ngày 6/7/1911 để tiếp xúc với nhân dân lao động Pháp, với các Tổ chức: Hội những người An Nam yêu nước, Hội những người Cách mạng Việt Nam và có điều kiện thuận lợi dự các Hội nghị Quốc tế quan trọng.
Tại Đại hội Tours (CH Pháp) năm 1920, Nguyễn Ái Quốc có bài phát biểu quan trọng tán thành Quốc tế 3 do Lê Nin lãnh đạo. Các nhà lãnh đạo Pháp lúc bấy giờ coi Nguyễn Ái Quốc là nhân vật chủ yếu xây dựng nên đường lối, hệ thống lý luận của Đảng Xã hội trước đây và Đảng Cộng sản Pháp sau nầy về vấn đề dân tộc và thuộc địa được nhiều nhân vật tiến bộ trên thế giới ngưỡng vọng. Nhà nghiên cứu, nhà sử học Pháp Alain Ruscio, nhận định: “Một trong những việc làm mà Hồ Chí Minh, một chiến sĩ trong hàng ngũ của Đảng Xã hội và sau nầy là Đảng Cộng sản Pháp, muốn thực hiện là thu hút sự chú ý của các đồng chí người Pháp về tầm quan trọng của cuộc đấu tranh của các dân tộc ở Châu Phi và Châu Á. Ông là người đầu tiên đưa ra ẩn dụ so sánh Chủ nghĩa đế quốc với con bạch tuộc 2 vòi và cần phải cắt cả 2 vòi và ông Hồ Chí Minh nói với các đồng chí mình là cần phải đập tan hệ thống nầy trên các thuộc địa”.

Đoàn làm phim “Hành trình theo chân Bác” khởi hành vào ngày 5/6/2008 tại Bến cảng Nhà Rồng.
Ông đã cùng các lãnh tụ người Antilles, người Algerie lập nên Hội Liên hiệp thuộc địa và xuất bản Tờ báo Le Paria (“Những người cùng khổ”) trên toàn thế giới, đấu tranh vì công bằng xã hội. Chúng tôi tìm gặp bà Ratner là một trong số nhiều trí thức ở Mỹ đã từng xuống đường biểu tình phản đối chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam. Suốt những năm qua, bà không ngừng làm việc, vận động nhân dân Mỹ ủng hộ cuộc đấu tranh của các nạn nhân chất độc da cam ở Việt Nam. Bà Ratner là Chủ tịch Viện Marx tại New York, một trong những học giả Mỹ có nhiều công trình nghiên cứu, sách viết về Hồ Chí Minh. Chúng tôi đến nhà riêng của bà ở New York, Mỹ nghe bà bộc bạch: “Tôi nghĩ rằng Hồ Chí Minh đã học hỏi được nhiều điều trong thời gian ở Mỹ (1912 - 1913). Qua những tác phẩm viết về những cuộc hành hình người da đen, có thể nói Hồ Chí Minh đã nhận thấy sự tàn bạo của chủ nghĩa phân biệt chủng tộc. Hồ Chí Minh là một người nhạy cảm. Ông đến từ một nước thuộc địa và trải nghiệm thực tiễn trong một xã hội thực dân. Ông là một trong những người đầu tiên không phải là người Mỹ viết về nạn phân biệt chủng tộc, về chủ nghĩa đế quốc, về những bất công trong xã hội Tư bản. Ông đã từng làm thuê trên tàu biển, làm thuê để kiếm sống ở New York, Boston… chứng kiến những nỗi thống khổ của những người nghèo, không có việc làm, không thể có được cuộc sống theo đúng nghĩa của nó. Do vậy, ông đã nhận thức ra những vấn đề liên quan đến giai cấp. Ông sớm bộc lộ sự cảm thông, đoàn kết với những người lao động, những người bị bóc lột trong xã hội …”. Tiến sỹ John Callow, Giám đốc Bảo tàng Anh Quốc (Luân Đôn - Anh ) nơi có nhiều nhà Triết học, chính trị, văn hóa lớn của thế giới đến tìm hiểu, đọc sách của Karl Marx, Engels như: Gandhi, Bernard Shaw, Lê nin, Nguyễn Tất Thành … có nhận xét: “Hồ Chí Minh là con người có óc sáng tạo tuyệt vời, một nhà thơ, một chiến sĩ kiên cường và vĩ đại. Ông đến Luân Đôn nhằm mục đích tìm hiểu hoạt động của hệ thống tư bản, đã nghiên cứu xem bản chất của đế quốc là gì, nó hoạt động ra sao, làm sao nó liên hệ với thuộc địa và nó gây chiến vì cái gì ? Ông Hồ Chí Minh đã làm mới hệ thống tư tưởng của Marx, có thể điều chỉnh linh hoạt những con người khác nhau trên khắp thế giới để tự mình thay đổi cuộc đời khiến nó trở nên tốt đẹp hơn”. Ông David Thomas có thời gian tham chiến ở Việt Nam trong 2 năm 1969, 1970 làm lính công binh đóng quân ở PleiKu, Kontum, đã giải ngũ về sống ở Boston (Mỹ), sau 1987 đến nay ông Thomas có trên 50 lần qua Việt Nam trong Chương trình “Trao đổi Văn hóa và giáo dục giữa Việt Nam và Hoa Kỳ”.
Ông có vẽ rất nhiều tranh chân dung về Bác Hồ trang trí trong phòng làm việc của mình và có nhận xét về Hồ Chí Minh: “Khi tôi tham chiến ở Việt Nam, Hồ Chí Minh 79 tuổi, nhưng tôi không biết ông là ai. Ông đã sống ở Boston, NewYork, London. Ông là nhà thơ, một người làm bánh, là một triết gia. Ông nghiên cứu về Phật giáo, về Thiên Chúa giáo, ông nghiên cứu về Marx, tìm đọc về Thomas Jefferson (Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ )… Tất cả các chi tiết đó đến cùng lúc và tôi bắt đầu vẽ những bức chân dung về Hồ Chí Minh, đó là cách tôi tìm hiểu về ông và tôi chợt hình dung ra một bức tranh tổng thể về Hồ Chí Minh. Trước kia trong thời kỳ chiến tranh khi tôi ở Việt Nam, tôi cảm thấy nhẹ nhỏm trước sự ra đi của Hồ Chí Minh, còn bây giờ tôi tôn vinh cuộc đời ông. Tôi cho rằng Hồ Chí Minh nằm trong số những nhà lãnh đạo lớn của thế giới như: Gandhi, Nelson Mandela…”.
Cuộc hành trình vạn dặm tìm đường cứu nước của Văn Ba - Nguyễn Ái Quốc bắt đầu khởi hành từ ngày 5/6/1911 tại Bến cảng Nhà Rồng bằng tàu biển qua gần 40 nước của Châu Á, Châu Âu, Châu Mỹ, Châu Phi rồi trở về nước, đặt chân đến cột mốc 108 của xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng ngày 28/01/1941 phải mất gần 30 năm của chuyến đi huyện thoại, hành trình khổ ải chốn lao tù nhưng rất kiên cường, bền bỉ vượt qua moi thử thách, gian truân tìm con đường Cách mạng nhất, khoa học nhất để dẫn dắt các dân tộc bị áp bức bóc lột trên toàn thế giới thóat khỏi gông xiềng của chế độ thực dân, đế quốc đem lại độc lập, tự do, bình đẳng, bác ái cho toàn nhân loại, trong đó có dân tộc Việt Nam. Không ai khác, chính là Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu !
Bài và ảnh: Lê Vũ Hoàng


