Nhớ về chiến thắng Tu Vũ
Kể về trận đánh Tu Vũ và chiến dịch Hòa Bình
Nhớ về chiến thắng Tu Vũ
Sau thất bại nặng nề ở Biên giới 1950, thực dân Pháp buộc phải rút hàng loạt vị trí, địa bàn quan trọng ở Bắc Bộ. Biên giới Việt - Trung đã được mở. Đường liên lạc từ Việt Bắc đi khu 4 và miền Nam qua Phú Thọ theo tuyến Đoan Hùng - Yên Kỳ - Thổ Khối - Ngọc Đồng - Võ Miếu tới Mai Đà (Hòa Bình) vẫn thông suốt. Ở Tây Nam Phú Thọ địch phải rút hơn chục vị trí song vẫn còn đóng ở Tu Vũ, Sụ Đá, La Phù, Thạch Đồng và Hạ Nung. Được Mỹ tiếp sức, Tướng De Lattre de Tassigny Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân đội Pháp đã lập 88 binh đoàn cơ động G.M mưu toan mở rộng vùng tạm chiếm ở đồng bằng, cắt đứt đường liên lạc Bắc - Nam, tiếp tục âm mưu lập xứ Mường, xứ Thái tự trị ở Tây Bắc. Ngày 14-11-1951, chúng đánh ra Xuân Mai - chợ Bến (đường số 6) sau đó chiếm thị xã Hòa Bình, Đá Chông, núi Chẹ, một số điểm cao núi Ba Vì, tăng cường cứ điểm Tu Vũ thành vị trí tiểu đoàn Âu Phi, tái lập phân khu sông Đà. Cùng với các cuộc hành quân liên lạc, địch tăng cường phi pháo, càn quét gây nhiều đau thương cho nhân dân. Ở Thanh Thủy, Huyện ủy đóng ở Thủy Trạm, chúng tôi lên tỉnh hoặc xuống các xã hạ huyện phải đi vòng qua bốt La Phù theo đường miền núi Khe Trơn, Giáp Lai, Thạch Khoán. Đồng bào Mường, Kinh quanh vùng địch chiếm phải sơ tán, thiếu ăn, thiếu mặc, gian khổ mọi bề song vẫn hăng hái tham gia kháng chiến, nóng lòng chờ đợi ngày xóa sổ các vị trí địch.
Trận Tu Vũ mở đầu thắng lợi chiến dịch Hòa Bình.
Trước tình hình trên, ngày 23-11-1951 Bác Hồ và Trung ương Đảng ra Chỉ thị mở chiến dịch Hòa Bình phá cuộc tiến công của địch. Theo hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi bàn bạc chọn điểm tấn công mở màn C.Z giữa La Phù và Tu Vũ thì quyết định cuối cùng là Tu Vũ bởi đó là cứ điểm mạnh gồm 3 phân khu, có xe tăng, pháo lớn do Tiểu đoàn bộ binh Ma-Rốc thiện chiến (1e RTM) đóng giữ. Nhổ được cứ điểm Tu Vũ thì thị xã Hòa Bình sẽ bị cô lập, tuyến sông Đà sẽ bị phá vỡ. Đây là trận công kiên lớn nhất của quân đội ta, lần đầu tiên đánh cứ điểm 1 tiểu đoàn Âu Phi ở đồng bằng ven sông được nhiều cụm pháo xung quanh yểm trợ. Mấy năm trước, ngày 18-3-1948, hai tiểu đoàn chủ lực của khu X có pháo binh đi kèm đánh Tu Vũ chỉ diệt được 60 tên địch, phá 2/3 công sự, diệt tề, giải phóng được 100 dân. Trận Sụ Đá tháng 2-1949, một tiểu đoàn của E 148 (khu X) cũng chỉ đánh tiêu hao lực lượng địch, buộc chúng phải rút 3 bốt Tinh Nhuệ, Yến Mao, Đoan Thượng. Khi tham vấn chuyên gia quân sự Trung Quốc, bạn cho rằng nên tránh cứ điểm mạnh, kiên trì chiến tranh du kích. Cố vấn Mai Gia Sinh nói phải về Bắc Kinh xin chỉ thị. Việc Bộ Chính trị và Tổng quân ủy quyết định đánh Tu Vũ là chủ trương sáng suốt thể hiện tinh thần tự chủ, sự quyết đoán về mưu lược, ý chí tiến công, quyết tâm vượt khó đẩy mạnh cuộc kháng chiến đã bước sang năm thứ 5. Đồng chí Lê Hữu Chỉnh cho biết từ 18-11-1951 tỉnh đã được các đồng chí Nguyễn Chí Thanh, Hoàng Văn Thái về làm việc, giao nhiệm vụ làm đường và chuẩn bị hậu cần. Ngày 30-11 đồng chí Võ Nguyên Giáp tới Sở chỉ huy tiền phương ở Đồng Lương (Cẩm Khê) sau đó chuyển sang Kẽm Hem (Hương Cần). Khi nổ súng đánh Tu Vũ, Sở chỉ huy nhẹ đặt ở xóm Giớn (Tân Lập). Đồng chí Nguyễn Tấn Phúc, Bí thư Tỉnh ủy được mời cùng theo dõi diễn biến chiến sự.
Trận đánh do Trung đoàn 88 Đại đoàn 308 đảm nhận. 20 giờ ngày 10-12-1951 quân ta tiếp cận trận địa. Địch phát hiện nã pháo ngăn chặn. Pháo của ta trên đường vận động bị phá hỏng 3 khẩu, còn lại 4 khẩu, 2 giờ sáng 10-12 mới tới nơi. Đại đội chủ công Tô Văn phải nằm đợi gần 5 giờ ở hàng rào thép gai dưới hỏa lực của 29 khẩu pháo địch từ Cổ Pháp, Trung Hà, Đá Chông bắn tới. Quân ta anh dũng chiến đấu đến 5 giờ sáng hôm sau đã hoàn toàn làm chủ trận địa. Tiểu đoàn 1e RTM do tên Đại tá De Salier chỉ huy bị tiêu diệt. Cứ điểm mạnh mà nhà báo Pháp Bernard Faune coi là vững như bàn thạch bị diệt kéo theo sự sụp đổ của phòng tuyến địch. Các vị trí La Phù, Thạch Đồng phải rút chạy. Huyện Thanh Thủy hoàn toàn được giải phóng sau hơn 3 năm bị tạm chiếm, riêng Tu Vũ là 4 năm kể từ tháng 10-1947.
Những ngày tiếp theo, ta bắn chìm, bắn hỏng 7 ca nô, tàu chiến địch trên sông Đà, khống chế tuyến vận tải của chúng. Phía hữu ngạn sông Đà, Đại đoàn 312 đánh địch ở các điểm cao 564 - 400 (Ba Vì). Phía tả ngạn, Tiểu đoàn 72 bộ đội địa phương tỉnh cùng Đại đội Dũng Tiến (Thanh Thủy), Quang Trung (Thanh Sơn) diệt 100 tên địch ở Thục Luyện và phối hợp với chủ lực diệt gọn Tiểu đoàn Thái số 3 (3e BAT) từ Quang Huy ra Lai Đồng. Trên đường số 6, Đại đoàn 304 diệt hơn 100 xe cơ giới, đánh thiệt hại nặng hơn chục tiểu đoàn bộ binh địch. Ở đồng bằng Bắc Bộ, các đại đoàn 316, 320 luồn sâu đánh hiểm, diệt hơn 1.000 đồn bốt, tháp canh mở rộng vùng du kích, vùng giải phóng sau lưng địch. Đợt II chiến dịch, các trung đoàn 102, 36 (318) tấn công ngoại vi thị xã Hòa Bình, buộc chúng phải rút chạy ngày 22-2-1952.
Tết Nhâm Thìn (1952) bộ đội ta ăn Tết ở trận địa có bánh gạo nếp Hòa Bình, đỗ xanh Phú Thọ, thuốc lá Ba Vì, chè Đồng Lương. Tổng kết chiến dịch, ta tiêu diệt 22 nghìn sinh lực địch (1,5 vạn tên ở vùng sau lưng địch), làm rung chuyển vùng đồng bằng rộng lớn trên 2 vạn km2, giải phóng 2 triệu dân, đẩy địch lún sâu vào thế bị động. Ta mạnh dần lên, trưởng thành hơn về nghệ thuật tác chiến, phối hợp binh chủng phối hợp chiến trường, chủ động buộc địch phải tác chiến ở chiến trường do ta lựa chọn để 3 năm sau ta giành thắng lợi hoàn toàn ở Điện Biên Phủ.
Phú Thọ và Thanh Thủy nói riêng dốc sức phục vụ chiến trường.
Phú Thọ có vinh dự lớn và trách nhiệm nặng nề gánh vác phần chủ yếu về hậu cần chiến dịch vì là địa bàn trú quân và xuất phát tiến công của 2 đại đoàn chủ lực 308-312. Tỉnh ủy cử đồng chí Lê Hữu Chỉnh, Chủ tịch UBKCHC tỉnh làm Trưởng ban phục vụ chiến trường, có 1 Thường vụ Tỉnh ủy (đồng chí Trần Đoàn), 3 Tỉnh ủy viên (Nguyễn Ngọc Mậu, Trần Thiện, Đỗ Quốc Cường) cùng 30 cán bộ của ngành giúp việc. Tỉnh đã huy động 8 vạn dân công làm và sửa chữa 80km đường, xay giã vận chuyển 2.453 tấn thóc gạo, 70 tấn thịt, 60 tấn thực phẩm khác cùng với hơn 1 vạn dân công đi theo các đơn vị tác chiến, tổng cộng gần 10 vạn dân công. Phục vụ cuộc vượt sông Đà qui mô đại đoàn, tỉnh đã huy động hơn 200 thuyền, chủ yếu của Lâm Thao, Thanh Ba, Cẩm Khê theo sông Bứa vào Đồn Vàng, cõng thuyền theo đường 24 cho bộ đội vượt sông ở Lạc Song (Hòa Bình). Đây cũng là kỳ tích của chiến tranh nhân dân.
Ở Thanh Thủy, ngoài Thường vụ Huyện ủy, hầu như toàn thể cán bộ chủ chốt của huyện như Nguyễn Khắc Tụng, Nguyễn Văn Lộc (UBKCHC huyện), Nguyễn Xuân Thiệp (Huyện đội dân quân), đồng chí Sửu - Bí thư thanh niên, đồng chí Mỹ - Huyện hội phụ nữ và nhiều Bí thư, Chủ tịch xã như Lã Ngọc Bích (Phú Cường), Trương Đình Cách (La Phù), Trần Tú (Vinh Quang), Quách Đình Hưu (Yến Mao), Nguyễn Văn Thiện (Đồng Luận), các đồng chí Nguyễn Văn Thiện, Như Ý... đều hăng hái phục vụ chiến trường. Huyện đã huy động hơn 6.000 dân công các xã, có cả cụ già 70 tuổi, thiếu niên 15 tuổi tự nguyện tham gia; đã xay giã vận chuyển gần 1.000 tấn gạo, cung cấp 12 trâu, 39 bò, 20 thuyền nan cho bộ đội.
Tổng kết hậu cần ở Kẽm Hem, Đại tướng Võ Nguyên Giáp tuyên dương Phú Thọ là tỉnh làm tốt nhất cung cấp hậu cần, góp phần quan trọng vào thắng lợi của chiến dịch. Phú Thọ là tỉnh được khen thưởng nhiều nhất với 37 đơn vị, cá nhân được thưởng Huân chương trong đó có huyện cùng nhiều xã của Thanh Thủy. Dự tổng kết, tôi cũng được cấp Giấy khen, Đại tướng thưởng cho một màn tuyn, 1 áo dạ chiến lợi phẩm mà tôi giữ mãi tới hơn 10 năm sau.
Điều tôi cảm nhận sâu sắc là nhờ có đường lối chiến tranh nhân dân và nghệ thuật quân sự Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh, có ý chí quyết thắng không nề hy sinh gian khổ mà quân và dân ta đã tạo nên chiến công Tu Vũ oai hùng, chiến dịch Hòa Bình thắng lớn. Các đơn vị đánh Tu Vũ cả bộ đội và dân công đã phải chịu làn mưa đạn tới 5.000 quả đại bác. Tiểu đoàn trưởng Vũ Phương và chính trị viên Lê Bình - Tiểu đoàn 23 E88 hy sinh khi đánh vào khu B. Dân công, du kích Thanh Thủy vượt bom đạn, ốm đau, ra sức đánh giặc, phục vụ tiền tuyến. Sau trận Tu Vũ, địch dùng máy bay Dakota rải bom nơi chúng nghi ta trú quân ở Đào Xá, tôi bị sức ép của bom bị thủng màng nhĩ tai trái gây nghễnh ngãng cho tới nay. Đó cũng là kỷ niệm đáng nhớ suốt đời. Khi được huyện cử làm đại diện Đảng bộ và nhân dân Thanh Thủy đến chúc mừng Trung đoàn 88 đón nhận danh hiệu "Trung đoàn Tu Vũ" và mừng công tại khu rừng xã Dị Nậu, tôi thấy bộ đội ta vẫn không đủ bát sắt, bát Minh Xương ăn cơm mà phải dùng bát cưa từ ống bương ra nhưng vẫn phấn khởi và lạc quan cao độ. Các đồng chí Thái Dũng - E trưởng, Đặng Quốc Bảo - Chính ủy thay nhau phất cao lá cờ của Liên đoàn Thanh niên dân chủ thế giới tặng Thanh niên Việt Nam được chuyển giao cho Trung đoàn trong tiếng hoan hô vang dậy. Lúc đó các đồng chí này mới trên dưới 26 tuổi.
Rõ ràng sức trẻ Việt Nam, ý chí quyết thắng của Việt Nam đã đè bẹp sức mạnh kẻ thù.



