Nhóm 10C8 Trường THPT Bỉm Sơn - Phường Bỉm Sơn - Thanh Hóa (1)
Tuổi xuân của Mẹ Thứ trôi qua trong khói lửa chiến tranh, là chuỗi ngày mòn mỏi tiễn chồng con lên đường ra mặt trận. Ở hậu phương, Mẹ một mình gánh vác cả gia đình, tần tảo nuôi con, nuôi cháu khôn lớn. Ba mươi năm ròng rã, Mẹ cùng các con âm thầm đào từng mét đất trong khu vườn rộng để dựng nên năm căn hầm bí mật – nơi che chở cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng hoạt động ngay giữa lòng địch.
Những câu chuyện thời hoa lửa: Đời mẹ - ngọn nến không bao giờ tắt
Có những tiếng hát mỗi lần được vang lên, lại để lại bao nỗi niềm trong lòng người:
"Đất nước tôi.
Thon thả giọt đàn bầu
Nghe dịu nỗi đau của mẹ
Ba lần tiễn con đi
Hai lần khóc thầm lặng lẽ
Các anh không về, mình mẹ lặng im."
( Đất nước - Tạ Hữu Yên)
Một câu hát không chỉ chạm đến Trái tim của độc giả mà còn chan chứa nỗi niềm thầm kín của những bà mẹ VNAH. Trong đó, mẹ Thứ - người mẹ của đất nước, mẹ không sinh ra để khóc cho riêng mình, mà để hóa nỗi đau thành ngọn lửa gìn giữ non sông. Mẹ tên thật là Nguyễn Thị Thứ (1904-2010), quê quán tại xóm Rừng thuộc thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.
Trong suốt cuộc đời mình, mẹ Thứ có 12 người con (11 trai, 1 gái). Thế nhưng 9 người con trai của mẹ đã lần lượt nằm lại nơi chiến trường. Người con gái duy nhất của mẹ – bà Lê Thị Trị – cùng với chồng và hai con cũng ngã xuống. Cả gia đình lớn ấy, cuối cùng chỉ còn lại một mình mẹ. Nỗi đau chồng chất nhưng mẹ vẫn lặng lẽ chịu đựng, không một lời oán thán. Với 12 liệt sĩ – 12 người mẹ đã đưa tiễn trong nước mắt, mẹ Thứ được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng. Nhưng hơn cả một danh hiệu, đó là tấm gương của một người mẹ đã dâng hiến trọn tuổi xuân, trọn tình thương, trọn máu thịt của mình để bảo vệ tương lai của Tổ quốc. “Mười hai lần người đi, mười hai lần mẹ khóc thầm lặng” – câu chuyện của mẹ khiến bao thế hệ nghẹn lại mỗi khi nhắc đến.
Tuổi xuân của Mẹ Thứ trôi qua trong khói lửa chiến tranh, là chuỗi ngày mòn mỏi tiễn chồng con lên đường ra mặt trận. Ở hậu phương, Mẹ một mình gánh vác cả gia đình, tần tảo nuôi con, nuôi cháu khôn lớn. Ba mươi năm ròng rã, Mẹ cùng các con âm thầm đào từng mét đất trong khu vườn rộng để dựng nên năm căn hầm bí mật – nơi che chở cho cán bộ, chiến sĩ cách mạng hoạt động ngay giữa lòng địch.
Đêm này qua đêm khác, Mẹ thao thức canh chừng từng cuộc họp quan trọng diễn ra dưới đáy hầm. Trên bàn thờ, ngọn đèn dầu Mẹ thắp suốt đêm như một tín hiệu an toàn cho du kích, cán bộ trở về. Cả khu vườn nhà Mẹ được bao phủ bởi cây trái, cỏ xanh và đàn bò lớn nhỏ – lớp vỏ ngụy trang hoàn hảo cho những bí mật sống còn. Khi yên ả, Mẹ hé nhẹ cửa hầm cho mọi người thở; còn lúc có động, Mẹ lại giả vờ chăm bò, kín đáo chỉnh sửa từng gốc cỏ, từng nắm đất để che lấp lối xuống.
Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích đã từng được Mẹ và gia đình chở che, nuôi dưỡng. Ai từng ghé qua đều nhớ mãi dáng Mẹ hiền từ nhưng cứng cỏi, đôi tay ấm áp mà mạnh mẽ. Một cựu chiến binh xúc động kể lại:“Mẹ thương anh em bộ đội như con ruột. Mỗi lần tụi tui về, Mẹ dặn từng lời, từng chữ: ‘Sự nghiệp cách mạng còn dài, tụi bây phải cẩn thận’.Mẹ – người phụ nữ thầm lặng mà kiên gan,đã góp vào lịch sử một trang đời sáng đẹp, như ngọn đèn không bao giờ tắt giữa những tháng ngày bom đạn.
Những đêm mưa không ngoai nỗi nhớ
Một lần, mẹ nghẹn ngào kể lại về những ký ức đau buồn của đời mình:
“Đêm mô cũng nhớ… nhất là những đêm mưa. Tui ngồi bên ngọn đèn dầu leo lét, nhìn cái áo lính cũ mà khóc. Khóc riết rồi nước mắt cũng khô.”Trong ánh sáng mờ đục của chiếc đèn dầu năm ấy, bóng dáng người mẹ còm cõi run lên theo từng tiếng nấc. Nỗi đau mất con không cần lời cũng đủ làm người nghe thắt lòng. Những vết thương chiến tranh tưởng như đã lùi vào quá khứ, vậy mà trong trái tim kiên cường của mẹ, chúng vẫn còn rớm máu. Kí ức ấy – những đêm chờ đợi, những hy vọng nhỏ nhoi rồi vụn vỡ – chưa bao giờ nguôi ngoai, chưa bao giờ thôi làm đau trái tim người mẹ đã tiễn cả cuộc đời mình theo bước chân những đứa con ra trận.
Giữa những mất mát tưởng chừng không thể chịu đựng, Mẹ Thứ vẫn chọn hy sinh, chọn tin vào hòa bình và con người. Sức mạnh của trái tim rớm máu mà không bao giờ gục ngã ấy đã chạm đến lòng biết ơn của cả dân tộc. Hiếm có người mẹ nào chịu đựng nhiều đau thương như Mẹ: tiễn chồng, đưa con ra trận trong nỗi chờ đợi vô vọng, nước mắt cạn mà nỗi đau vẫn còn đó.Có lẽ nguồn sức mạnh lớn lao đã nâng bước mẹ trước những nỗi mất mát to lớn ấy chính là tình yêu đất nước và khát vọng độc lập tự do,cũng là phẩm chất cao quý của người Mẹ Việt Nam.
Nguyện giữ trọn lời mẹ dặn - Tri ân Mẹ Thứ
Giữa vùng đất Quảng Nam đầy nắng gió, Tượng đài mẹ Việt Nam anh hùng hiện hữu như một nốt trầm thiêng liêng của lịch sử chất chứa bao cảm xúc nghẹn ngào khi bất kì ai nhìn đến. Đó không chỉ là công trình điêu khắc lớn nhất cả nước mà còn là nơi chứa đựng linh hồn của hàng triệu người mẹ Việt Nam đã lặng lẽ, âm thầm hiến dâng tất cả cho Tổ quốc.
Trân trọng với những gì các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho Tổ quốc, cho nhân dân, năm 2004, Đảng và Nhà nước đồng ý xây dựng quần thể tượng đài Bà mẹ VNAH. Ngày 27-7-2009, công trình được khởi công tại núi Cấm và hoàn thành ngày 24-3-2015.(Theo báo Công An TP Hồ Chí Minh ngày 30-4-2020). Hình tượng Mẹ được lấy nguyên mẫu dựa theo chân dung mẹ Thứ - người mẹ đã trải qua những nỗi mất mát đến quặn lòng mà hiếm ai có thể chịu được. Đôi mắt ấy sâu thẳm như chứa cả trời thương nhớ, vừa ấm áp, vừa chất chứa nỗi đau không thể gọi tên, khóe môi mím nhẹ, vừa kiên cường vừa thể hiện biết bao nỗi niềm. Đôi bàn tay Mẹ mở nhẹ về phía trước – như vòng tay bao dung của đất mẹ, như vừa nâng đỡ dân tộc vừa ôm trọn những linh hồn đã hòa vào đất nước.
Đến với Tượng đài Mẹ Việt Nam Anh hùng, ta không chỉ đến để chiêm ngưỡng một công trình, mà là để lặp lại lịch sử trong hình hài của một người mẹ. Tượng đài ấy, vì thế, không chỉ là dấu ấn của nghệ thuật, mà là trái tim mang ánh sáng không bao giờ tắt của dân tộc – luôn nhắc nhở ta về giá trị lớn lao của hòa bình, về sự mất mát lớn lao, cao cả, sự hi sinh thầm lặng nhưng bất tử của những người phụ nữ Viêt Nam anh hùng.
Trái tim người mẹ Việt Nam anh hùng
Người mẹ Việt Nam Anh hùng Nguyễn Thị Thứ tựa như mảnh ký ức lấp lánh thay lời kể về những trang sử hào hùng nhưng cũng âm ỉ một nỗi đau sâu thẳm không thể xóa nhòa đi. Mẹ vĩ đại đâu chỉ bởi vì những nỗi đau quặn thắt thầm lặng dày vò cả một đời làm mẹ, mà còn là vì một niềm dâng hiến tròn đầy cho dân tộc, cho Tổ quốc. Đó là nỗi đau mất đi ruột thịt, phải chứng kiến cảnh người thân yêu hy sinh ngay trước thềm độc lập của dân tộc mà chỉ có thể bất lực kìm lại nỗi đau tận đáy lòng.
Hình ảnh Mẹ với chín bát cơm trên mâm cùng những que nhang cháy đỏ khiến trái tim người ta thật sự nghẹn lòng. Đó không chỉ là nỗi buồn thăm thẳm, một niềm đau đớn xót xa mà còn là sự đồng cảm, thấu hiểu tận cùng trái tim với mẹ Thứ của những người con dân tộc. Hồi tưởng lại câu chuyện xúc động, đau thương ấy tim ta lại càng thêm nhói đau. Khi ấy ta mới được hiểu rằng, dẫu là thời bình nhưng lòng người vẫn chưa thể thực sự an yên. Người mẹ Nguyễn Thị Thứ là dấu ấn mạnh mữ phản chiếu hiện thực chiến tranh tàn nhẫn, nơi những trái tim in hằn bao thương đau để lại mà những người mang trên mình tương lai của Tổ quốc phải đời đời nhớ đến để ngàn ấy sự hiến đang cả tấm lòng không để dòng thời gian vô hình cuốn trôi đi.



