Khác

Những bàn mổ ở Điện Biên Phủ

Tháng 3/1954, khi Chiến dịch Điện Biên Phủ đang diễn ra quyết liệt, bác sĩ Tôn Thất Tùng được cử lên mặt trận. Ở đó, những ca phẫu thuật được thực hiện trong hầm, lán và các đội điều trị nằm ngay sau chiến tuyến.

Tuyên Quang18/08/2026Xã Ngọc Đường (Đoàn xã Ngọc Đường)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Những bàn mổ ở Điện Biên Phủ

Khi toàn quốc kháng chiến bùng nổ cuối năm 1946, bác sĩ Tôn Thất Tùng rời Hà Nội cùng đoàn phẫu thuật và một số trang thiết bị của Bệnh viện Phủ Doãn, Trường Đại học Y Dược. Trong những năm sau đó, ông cùng Giáo sư Hồ Đắc Di và các đồng nghiệp vừa tổ chức cứu chữa thương binh, vừa duy trì việc đào tạo sinh viên y khoa trong điều kiện chiến tranh. Trường Đại học Y sau nhiều lần di chuyển đã có thời gian đặt tại Chiêm Hóa, Tuyên Quang.

Đến năm 1954, chiến trường đặt ra một yêu cầu lớn hơn nhiều. Số thương binh tại Điện Biên Phủ tăng nhanh sau mỗi đợt tiến công, trong khi việc chuyển những trường hợp nặng về tuyến sau mất nhiều thời gian.

Ngày 22/3/1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh quyết định cử bác sĩ Vũ Đình Tụng và Giáo sư Tôn Thất Tùng trực tiếp lên mặt trận làm công tác cứu chữa thương binh. Khi ấy Tôn Thất Tùng đang giữ chức Thứ trưởng Bộ Y tế, đồng thời là cố vấn phẫu thuật của Bộ Tổng Tư lệnh.

Đường tới Điện Biên cũng là một phần của công việc. Các đoàn quân y hành quân chủ yếu vào ban đêm để tránh máy bay, ban ngày nghỉ trong rừng hoặc hang đá. Thuốc men, dụng cụ phẫu thuật và đồ dùng cá nhân được đóng vào ba lô, thùng rồi cõng và gánh theo người. Một sinh viên Y4 tham gia chiến dịch sau này nhớ lại rằng đội điều trị của ông gồm 10 người, phải đi bộ liên tục khoảng 10 ngày từ Phú Thọ. Trên đường hành quân, họ còn tranh thủ ôn lại giải phẫu vùng tay, chân bằng miệng để chuẩn bị cho những ca mổ sắp tới.

Tại mặt trận, hệ thống quân y được bố trí thành nhiều tuyến. Những trường hợp cần cấp cứu được đưa vào các đội điều trị nằm phía sau trận địa. Điều kiện phẫu thuật khác xa bệnh viện: phòng mổ có thể là lán hoặc hầm, ánh sáng và dụng cụ đều hạn chế, trong khi thương binh liên tục được chuyển về sau những trận đánh.

Tôn Thất Tùng không chỉ trực tiếp phẫu thuật. Ông đi tới các đội điều trị, kiểm tra thương binh, hội chẩn những trường hợp khó và hướng dẫn kỹ thuật cho đội ngũ quân y. Nhiều sinh viên y khoa đang học cũng được đưa ra mặt trận, vừa làm nhiệm vụ vừa tiếp tục hoàn thiện kỹ năng ngay trong thực tế chiến trường.

Khó khăn không chỉ đến từ bom đạn. Môi trường hầm hào ẩm thấp, bùn đất và điều kiện vệ sinh hạn chế khiến nhiễm khuẩn vết thương trở thành vấn đề lớn. Trước đó, trong những năm kháng chiến, Tôn Thất Tùng và các đồng nghiệp đã phải nghiên cứu nhiều cách điều trị phù hợp với điều kiện thiếu thuốc, từ xử lý dò xương, gây tê đến cải thiện kỹ thuật vô trùng trong phẫu thuật. Phương pháp chữa dò xương của ông đạt kết quả cao và việc phẫu thuật trong điều kiện kháng chiến đã giảm đáng kể tỷ lệ tử vong.

Sinh viên Trường Đại học Y được huy động vào các đội điều trị, mang theo những kiến thức vừa học để phục vụ thương binh. Bởi vậy, hoạt động quân y tại Điện Biên Phủ đồng thời cũng trở thành một môi trường đào tạo đặc biệt của thế hệ thầy thuốc thời chiến.

Sau ngày 7/5/1954, công việc của các đội điều trị vẫn chưa kết thúc. Thương binh còn phải tiếp tục được chăm sóc, phẫu thuật và chuyển về hậu phương. Khi trở lại Hà Nội sau hòa bình, Tôn Thất Tùng tiếp tục làm Giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn – sau này là Bệnh viện Việt Đức – và trở lại với nghiên cứu ngoại khoa. Những kinh nghiệm về cấp cứu, phẫu thuật và tổ chức cứu chữa trong chín năm kháng chiến cũng trở thành một phần trong quá trình hình thành nền ngoại khoa Việt Nam sau này.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn