những bàn tay của đồng bào trên đường vượt Trường Sơn
Trên hành trình qua nhiều vùng rừng núi, đoàn liên tục nhận được sự giúp đỡ của đồng bào bằng lương thực, nước uống, nơi nghỉ, thuốc men và chăm sóc người bệnh. Những sự sẻ chia ấy dần hình thành trong bác Trần Minh nhận thức sâu sắc về sức mạnh của tình đồng bào.
Bác Trần Minh, tên thật là Trần Phú Thịnh, sinh năm 1927, mất năm 2015. Quê quán: thôn La Chữ, xã Phước Hữu, tỉnh Khánh Hòa. Là một cán bộ lão thành cách mạng, trong thời kỳ kháng chiến và sau ngày đất nước giải phóng, ông từng đảm nhiệm nhiều cương vị lãnh đạo, chỉ huy, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và phát triển quê hương Ninh Thuận.
Theo lời kể của cô Trần Thị Sơn - tức Mười Sơn, cháu ruột của bác Trần Minh và gọi bác bằng chú (Nguyên Tỉnh Ủy viên, Trưởng Ban VHXH Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Thuận, nhiệm kỳ 2004-2009), trên tuyến đường Tây Quảng Nam, Tây Quảng Ngãi, Kon Tum, Gia Lai và Đắk Lắk, đoàn nhiều lần nhận được sự giúp đỡ của đồng bào.
Có những người dân dù cuộc sống còn rất khó khăn vẫn tìm cách giúp đoàn lương thực, nước uống và nơi nghỉ. Sau năm ngày nghỉ dưỡng, đoàn tiếp tục lên đường. Đường được mở rộng khoảng hai mét, có những đoạn làm thành bậc thang. Trên đường, đôi khi đồng bào để sẵn trái cây, rau xanh hoặc những thứ có thể giúp người đi đường chống đói. Những món quà nhỏ ấy khiến mọi người cảm động.
Tại một trạm, đoàn gặp anh Trầm, người của đoàn Bình Thuận, bị bệnh nặng phải nằm lại chờ đưa về. Bệnh tật và điều kiện khắc nghiệt khiến nhiều người trong các đoàn phải dừng lại dọc đường.
Có những gia đình mà đoàn cảm nhận như một trạm xá nhỏ. Ngoài việc bắt mạch, cấp thuốc cho những người bị sốt rét, kiết lỵ, ho cảm, bà con còn giúp chữa trị cho những người bị thương. Họ chỉ dẫn cách sử dụng những loại lá rừng, cách ăn uống và sinh hoạt trong điều kiện núi rừng.
Đến Tây Quảng Ngãi, đoàn chỉ mất khoảng sáu ngày để đi hết đoạn đường. Có những ngày trời đẹp, gió mát, đoàn đi trên những khu rừng nguyên sinh. Đứng trên những đỉnh núi cao, nhìn xuống thung lũng phủ mây và sương, cảnh vật có lúc đẹp đến mức mọi người quên đi phần nào những mệt mỏi đang mang trên người.
Qua Kon Tum hơn 15 ngày, mọi người cảm thấy đỡ vất vả hơn so với những đoạn trước. Một lần nghỉ bên bờ suối, đoàn được các cô gái người Ê Đê mang đến chuối và bắp tươi. Họ không nói được tiếng Kinh nhưng giao tiếp với nhau bằng ánh mắt, cử chỉ và nụ cười.
Qua câu chuyện ấy, bác nhận ra rằng tình cảm của đồng bào dành cho cán bộ cách mạng rất chân thành, nhưng cũng cần được trân trọng và ứng xử đúng mực.
Đến Gia Lai, đoàn tiếp tục đối diện với khó khăn khác là vắt. Vắt xuất hiện rất nhiều trong rừng, bám vào quần áo và cơ thể người đi đường. Có ngày quần áo của mọi người bê bết máu vì vắt cắn. Đến trạm, mỗi người phải kiểm tra và gỡ vắt ra khỏi quần áo.
Bù lại những gian khổ ấy là sự đùm bọc của đồng bào ở các trạm Gia Lai. Nhiều nơi, mỗi thành viên trong đoàn còn được bà con cho mật ong hoặc những thức ăn khác. Có trạm giúp giặt quần áo bị vắt cắn, có nơi nhóm lửa để đoàn sưởi ấm và nấu cơm.
Khi đoàn đến Đắk Lắk, sức khỏe của nhiều người giảm sút. Đoàn phải chia thành hai nhóm, người khỏe đi trước, người yếu đi sau. Bác Trần Minh cùng một số anh em ở nhóm thứ hai để hỗ trợ những người yếu sức.
Gần cuối Đắk Lắk, đoàn đi qua những buôn làng đông đúc. Những ngôi nhà sàn tập trung thành từng cụm, trâu bò nhiều, lúa bắp trải rộng. Những người dân gặp đoàn thường vui vẻ bắt tay, chào hỏi. Vì khác ngôn ngữ nên việc trò chuyện rất khó, nhưng ánh mắt và nụ cười đã đủ để thể hiện sự thân thiện.
Những hình ảnh ấy nối tiếp nhau trong suốt hành trình. Một ít trái cây, vài bắp ngô, mật ong, một bếp lửa, một chỗ nghỉ hay sự chăm sóc người bệnh đều là những điều rất nhỏ nhưng có ý nghĩa lớn đối với những người đang đi giữa núi rừng.
Hơn một tháng trời đi trong gian khổ, mồ hôi, máu và nước mắt của những người trong đoàn dường như hòa vào tình nghĩa của người dân nơi đây. Chính từ những trải nghiệm ấy, bác Trần Minh càng cảm nhận rõ sức mạnh của tình đồng bào.



