Khác

NHỮNG BỨC TƯỜNG BIẾT NÓI: KÝ ỨC VỀ NHỮNG “LINH HỒN”Ở NHÀ TÙ CÔN ĐẢO

Côn Đảo hôm nay đón du khách bằng tiếng sóng vỗ hiền hòa và những rặng bàng di sản rợp bóng xanh mát. Nhưng lẩn khuất sau vẻ đẹp bình yên nhường ấy, nếu áp tai vào những bức tường đá rêu phong của hệ thống nhà tù lớn nhất Đông Dương, người ta dường như vẫn nghe thấy nhịp đập của những trái tim chưa bao giờ ngừng cháy. Suốt 113 năm tồn tại, “địa ngục trần gian” này đã giam giữ thể xác của hàng vạn người tù chính trị. Thế nhưng, giữa chốn kìm kẹp tàn độc nhất, những “linh hồn” ấy chưa bao giờ bị k

TP. Hồ Chí Minh16/04/2026Phan Thị Thanh Ngọc (Khoa KT - QTKDk)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Côn Đảo hôm nay đón du khách bằng tiếng sóng vỗ hiền hòa và những rặng bàng di sản rợp bóng xanh mát. Nhưng lẩn khuất sau vẻ đẹp bình yên nhường ấy, nếu áp tai vào những bức tường đá rêu phong của hệ thống nhà tù lớn nhất Đông Dương, người ta dường như vẫn nghe thấy nhịp đập của những trái tim chưa bao giờ ngừng cháy. Suốt 113 năm tồn tại, “địa ngục trần gian” này đã giam giữ thể xác của hàng vạn người tù chính trị. Thế nhưng, giữa chốn kìm kẹp tàn độc nhất, những “linh hồn” ấy chưa bao giờ bị khuất phục. Bằng máu, nước mắt và ý chí sắt đá, họ đã viết nên một chân lý vĩnh cửu: Khi thân thể bị xiềng xích, ý chí và lý tưởng chính là đôi cánh của tự do.

Nơi ngự trị của bóng tối, xiềng xích và những đòn thù tàn độc

Bước qua cánh cổng sắt nặng nề của khu Chuồng Cọp, hầm đá hay Trại Phú Hải, một luồng khí lạnh lẽo lập tức bủa vây lấy người vãn cảnh. Cái lạnh ấy không đến từ thời tiết biển đảo, mà nó toát ra từ tận cùng của sự tàn ác, từ những tiếng vọng đau thương đã ngấm sâu vào từng tấc đất. Tại đây, chính quyền thực dân Pháp và sau này là đế quốc Mỹ cùng tay sai đã thiết kế ra những đòn thù thâm độc nhất, nhằm mục đích tối thượng: tiêu diệt sinh lực, đè bẹp nhân phẩm và đánh gục ý chí của những người cộng sản.

Kẻ thù không chỉ muốn giam giữ, chúng muốn đày đọa. Đó là những xà lim tối tăm, chật hẹp và ngột ngạt đến mức chỉ cần hít thở thôi cũng đã là một cuộc chiến sinh tử. Đó là những chiếc cùm chân bằng sắt rỉ sét, ngày đêm cắn phập vào cổ chân người tù, lở loét tới tận xương tủy mỗi khi di chuyển. Khu “Chuồng Cọp” khét tiếng được thiết kế không có mái che, bên trên là song sắt để cai ngục tự do đi lại, mang theo những cây sào nhọn hoắt sẵn sàng chọc thẳng xuống đám người tù gầy gò, trần truồng đang nằm la liệt bên dưới.

Khi nắng gắt, chúng dội nước mặn. Khi mưa rét, chúng hắt vôi bột làm bỏng rát những vết thương hở đang rỉ máu. Chúng tống người tù vào “hầm phân bò” ngập ngụa uế khí, bắt họ phơi nắng phơi sương, cắt xén khẩu phần ăn chỉ còn là những nắm cơm hẩm trộn lẫn cát sét và cá ươn. Kẻ thù muốn biến Côn Đảo thành một cỗ máy xay thịt khổng lồ. Chúng tin rằng, trước sự đe dọa của cái chết và nỗi đau thể xác tột cùng, những người tù sẽ phải gục ngã, sẽ phải ký vào tờ giấy “ly khai” phản bội lại lý tưởng, hoặc chí ít cũng chết dần chết mòn trong câm lặng và sợ hãi.

Nhưng chúng đã hoàn toàn sai lầm. Sự tàn bạo có thể làm héo hon thể xác, nhưng bóng tối của hầm ngục đã vĩnh viễn không thể nuốt chửng được ánh sáng rực rỡ của lòng yêu nước.

Những vần thơ tạc bằng máu đào trên vách đá lạnh

Ở chốn “địa ngục trần gian” này, mọi quyền con người cơ bản nhất đều bị tước đoạt. Bút, mực, giấy tờ là những thứ xa xỉ mang tội chết nếu bị phát hiện. Nhưng khát vọng được cất lên tiếng nói, khát vọng khẳng định lý tưởng sống chưa bao giờ tắt trong huyết quản của những người tù. Không có giấy, họ biến chính những vách đá rêu phong, ẩm mốc của xà lim thành những trang nhật ký cách mạng vô giá.

Ban đầu, họ lén lút mài những viên gạch non để làm phấn. Khi không còn gạch, khi bị lột sạch mọi thứ, những người tù kiên trung đã chọn một cách thức bi tráng nhất: Họ cắn đầu ngón tay tứa máu, hay dùng mảnh sành rạch vào da thịt, chắt chiu từng giọt máu đào nóng hổi của mình để nắn nót viết từng chữ lên bức tường câm lặng.

Ngày nay, những bức tường ở Côn Đảo được xưng tụng là “những bức tường biết nói”. Chúng mang trên mình những vết sẹo của lịch sử, kể lại câu chuyện về những đêm dài thao thức, khi thân thể đau đớn đến chết đi sống lại nhưng tâm hồn lại ngập tràn sắc xuân của niềm tin Tất Thắng. Những bài thơ viết bằng máu ấy không mang âm hưởng của sự bi lụy, than vãn, mà rực sáng như một khúc tráng ca đanh thép. Dù Bác Hồ không bị giam tại Côn Đảo, nhưng tinh thần trong câu thơ của Người luôn là kim chỉ nam, là nhịp đập chung của mọi trái tim người tù chính trị:

“Thân thể ở trong lao, Tinh thần ở ngoài lao. Muốn nên sự nghiệp lớn, Tinh thần càng phải cao.”

Trên những vách đá lạnh lẽo ấy, người ta còn tìm thấy vô vàn những dòng chữ tuyệt mệnh trước lúc hy sinh, những lời thề son sắt với Đảng, những dòng dặn dò đồng chí giữ vững khí tiết, và cả những vần thơ tình lãng mạn dạt dào gửi về quê hương, về người vợ tảo tần chốn quê nhà.

Máu của họ đã thấm sâu vào đá. Đá ôm ấp lấy lý tưởng của họ để cùng nhau trở thành bất tử. Đối diện với cái chết nhãn tiền, người tù Côn Đảo vẫn làm thơ, vẫn mỉm cười. Đó không chỉ là cốt cách tài hoa của người trí thức yêu nước, mà cao hơn cả, đó là một sự thách thức ngạo nghễ, một cái tát ném thẳng vào mặt kẻ thù: “Các người có quyền hủy hoại thân xác ta, nhưng các người vĩnh viễn không thể chạm tới vạt áo của lý tưởng và niềm tin mà ta tôn thờ.”

Lớp học nảy mầm từ những bánh xà phòng và tiếng gõ Mã Morse

Điều kỳ diệu và vĩ đại nhất ở “trường đại học Côn Đảo” không chỉ dừng lại ở sức chịu đựng phi thường, mà chính là cách những người cộng sản chuyển hóa nhà tù của đế quốc thành trường học của cách mạng. Kẻ thù muốn giam hãm trí tuệ, làm ngu muội tinh thần, thì những người tù lại tìm trăm phương ngàn kế để mở mang tri thức, tổ chức đấu tranh bài bản. Và từ trong bóng tối mịt mùng của xà lim, những lớp học chính trị bí mật đã kỳ diệu nảy mầm.

Lớp học ở Côn Đảo là một lớp học độc nhất vô nhị. Không có bục giảng, không có phấn trắng, không có bảng đen. Giảng viên và học viên thậm chí chưa từng nhìn thấy mặt nhau, họ bị cách ly hoàn toàn bởi những vách tường đá dày hàng mét. Vậy làm sao để truyền đạt kiến thức? Họ học bằng cách gõ mã Morse. Từng nhịp gõ cốc... cốc... vang lên nhè nhẹ, áp tai vào tường để lắng nghe, mã hóa và ghi nhớ. Những nghị quyết của Đảng, những thông tin thời sự chắt lọc, những chỉ thị đấu tranh tuyệt thực chống chào cờ địch... tất cả đều được truyền đi bằng thứ ngôn ngữ không lời ấy.

Nhưng kinh ngạc và mưu trí hơn cả là cách những tài liệu vô giá được lưu chuyển giữa các buồng giam. Những bài học về chủ nghĩa Mác - Lênin, triết học, lịch sử Đảng, hay những tác phẩm văn học cách mạng được chép nắn nót, chữ nhỏ li ti trên những mẩu giấy pơ-luya mỏng tang (loại giấy cuốn thuốc lá). Để lọt qua con mắt cú vọ và những trận đòn thù rảo xét bất ngờ của lũ cai ngục, trí thông minh của người tù đã phát huy cao độ. Giấy được vo viên thật nhỏ gọn, giấu kín vào ruột rỗng của những chiếc đòn gánh, ép dưới đế dép lốp, giấu trong kẽ răng, và đặc biệt nhất là giấu bên trong những bánh xà phòng tắm.

Họ khéo léo dùng tăm hoặc vật nhọn khoét rỗng lõi bánh xà phòng, nhét viên tài liệu bọc nilon (nếu có) hoặc bọc lá vào trong, rồi cẩn thận trét xà phòng lại như cũ, làm mịn bề mặt. Một bánh xà phòng tưởng chừng vô tri vô giác, vốn chỉ để gột rửa bụi bẩn trần gian, nay lại mang trong mình “mật ngữ” của tự do, của ánh sáng chân lý. Những chiếc “két sắt xà phòng” ấy được lén lút chuyền tay nhau từ buồng giam này sang buồng giam khác vào những khoảnh khắc ngắn ngủi khi đi đổ bô vệ sinh hay ra ngoài tắm nắng.

Trong đói khát, bệnh tật và cận kề cái chết, họ vẫn sẵn sàng nhường nhau từng nhúm muối hạt, từng ngụm nước đục ngầu, và chia cho nhau cả một bầu trời tri thức. Lớp học trong ngục tối đã mài sắc lý luận, củng cố lập trường vững vàng, biến những người nông dân, công nhân vốn chỉ quen với cày cuốc chất phác thành những chiến sĩ cách mạng kiên trung, bản lĩnh và đầy trí tuệ. Ngục tù tàn bạo, thay vì làm họ thui chột và sợ hãi, lại vô tình trui rèn họ thành những “thanh thép” sáng ngời đã được tôi luyện qua lò lửa đỏ.

Đôi cánh của tự do và tiếng hát ngàn thu

Thời gian trôi đi, “địa ngục trần gian” Côn Đảo cuối cùng cũng bị đập tan cùng với sự sụp đổ của chế độ tay sai bán nước. Những kẻ từng giăng dây thép gai, lập Chuồng Cọp, vung roi vọt đẫm máu ngày nào giờ đã bị bánh xe lịch sử quét sạch vào dĩ vãng. Côn Đảo hôm nay chỉ còn lại những tàn tích: những bức tường đá chi chít vết cào xước, những ô cửa sổ nhỏ xíu bị song sắt dày đặc chia cắt bầu trời thành những mảnh vỡ vụn.

Nhưng đứng trước những bức tường câm lặng ấy, thắp một nén nhang tại Nghĩa trang Hàng Dương nơi hàng vạn anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ, bất cứ ai cũng nghẹn ngào thấu hiểu một chân lý sâu sắc về cái giá của hòa bình. Ta nhận ra rằng: Tự do thực sự không đơn thuần chỉ là khi con người ta được bước đi một cách thoải mái dưới bầu trời rộng mở. Tự do thực sự, cao cả và thiêng liêng nhất, là khi tâm hồn và trí óc ta không bị khuất phục bởi bất kỳ thế lực bạo quyền nào.

Khi gông cùm rỉ sét khóa chặt cổ chân, khi roi vọt rạch nát da thịt bật máu, khi thân thể những người tù Côn Đảo bị giam cầm ngạt thở trong những bức tường đá bốn mét vuông tăm tối; thì chính lúc đó, ý chí và lý tưởng cách mạng đã hóa thành những đôi cánh tàng hình tuyệt đẹp. Đôi cánh ấy nâng “linh hồn” họ bay xuyên qua những hàng song sắt chật hẹp, bay vượt qua đại dương bão tố mù khơi, để hòa nhịp cùng nhịp đập đau thương nhưng vô cùng oai hùng của một dân tộc đang vùng lên đòi quyền sống.

Những bức tường ở Côn Đảo hôm nay không còn cất tiếng thét gào đau đớn trong đêm đen. Chúng đang hát. Đó là khúc tráng ca bất diệt về những con người đã dùng chính máu đỏ của mình để thắp sáng đêm trường nô lệ, dùng ý chí sắt đá để phá tan xiềng xích nô gông. Họ đã nằm xuống, đã cống hiến trọn vẹn cả thanh xuân và sinh mệnh, để mở ra, và để lại cho thế hệ mai sau một bầu trời tự do vĩnh cửu.

Tài liệu tham khảo

Nguyễn Đình Thống, Nguyễn Linh, Hồ Sĩ Hành (2019), Lịch sử nhà tù Côn Đảo (1862 - 1975), Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. (Công trình nghiên cứu toàn cảnh và chính xác nhất về cuộc đấu tranh tại Côn Đảo, quy mô các trại giam, các đòn tra tấn và hình thức đấu tranh).

Trung tâm Lưu trữ quốc gia I, chuyên đề: “Nhà tù Côn Đảo - Từ 'địa ngục trần gian' đến trường học đấu tranh cách mạng”.

Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), Hồ sơ: “Di tích lịch sử Nhà tù Côn Đảo”.

Báo Nhân Dân (2025), bài viết “Ý chí thép của nữ cựu tù chính trị Côn Đảo” (Ghi nhận lời kể của các cựu tù về việc học văn hóa, học chính trị và cách liên lạc trong hầm ngục).

Báo Công an Nhân dân, loạt bài “Nhà tù Côn Đảo - công cụ khủng bố của chủ nghĩa thực dân”.

Hồ Chí Minh (1942-1943), Nhật ký trong tù (Tác phẩm được trích dẫn để làm nổi bật tinh thần và khí tiết chung của người cộng sản chốn lao tù).

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn