Những bước chân quả cảm viết nên huyền thoại Điện Biên
Nguyễn Lan Chi
Khi những tiếng súng mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ còn chưa rền vang giữa lòng chảo Mường Thanh, một cuộc tổng động viên vĩ đại chưa từng có trong lịch sử dân tộc đã âm thầm diễn ra trên khắp các làng quê Việt Nam. Không phân biệt già trẻ gái trai, hàng vạn người con bình dị đã gác lại ruộng vườn, tay nải lên đường hướng về dải đất Tây Bắc hiểm trở. Họ chính là lực lượng thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến – những người đã dùng đôi chân trần và lòng quả cảm để dệt nên mạng lưới giao thông huyết mạch, trực tiếp bẻ gãy mọi tính toán chiến lược của bộ chỉ huy quân đội Pháp.
Thực dân Pháp khi xây dựng tập đoàn cứ điểm tại thung lũng Mường Thanh đã đinh ninh rằng, địa hình hiểm trở, núi cao vực sâu của vùng Tây Bắc sẽ là bức tường thành ngăn chặn mọi nguồn tiếp tế của quân đội ta. Thế nhưng, hàng vạn người con từ khắp các miền quê, từ đồng bằng sông Hồng, Liên khu 3, Liên khu 4 cho đến vùng tự do Thanh - Nghệ - Tĩnh đã nghe theo tiếng gọi của Tổ quốc, hăm hở lên đường với tinh thần “tất cả cho tiền tuyến, tất cả để chiến thắng”. Họ mang theo những đôi bồ vụng về, những chiếc xe thồ thô sơ, gánh trên vai cả giang sơn để hướng về lòng chảo Điện Biên.
Trọng trách của lực lượng thanh niên xung phong và dân công hỏa tuyến vô cùng nặng nề khi phải bảo đảm mạch máu giao thông xuyên suốt hàng ngàn kilômét đường rừng. Tại những “tọa độ lửa” như đèo Pha Đin, ngã ba Cò Nòi – nơi máy bay địch trút bom đạn cày xới ngày đêm nhằm cắt đứt tuyến đường tiếp tế – các đội thanh niên xung phong đã bám trụ kiên cường, vừa phá bom nổ chậm vừa san lấp hố bom. Với khẩu hiệu “máu có thể chảy, nhưng đường không thể tắc”, những bàn tay cuốc, bàn tay xẻng của họ đã giữ cho những đoàn xe pháo, xe thồ luân chuyển không ngừng nghỉ ra mặt trận.
Không có phương tiện cơ giới hiện đại, sức người và những chiếc xe đạp thồ cải tiến đã trở thành thứ vũ khí chiến lược làm đảo lộn mọi tính toán của các tướng lĩnh Pháp. Những người dân công hỏa tuyến đã vượt qua hàng trăm con đèo, lội qua muôn vàn con suối, đẩy những chiếc xe thồ chở nặng từ hai đến ba tạ lương thực, vũ khí trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt, mưa dầm, bùn lầy thụt đến đầu gối. Sự dẻo dai, bền bỉ của họ không chỉ cung cấp đủ gạo, đủ đạn cho bộ đội ăn no đánh thắng, mà còn thể hiện một ý chí dũng cảm, sẵn sàng hy sinh thân mình khi gặp bom đạn địch phục kích trên đường hành quân.
Sự đóng góp và hy sinh thầm lặng của hơn 26 vạn dân công hỏa tuyến và thanh niên xung phong là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân, nơi mà ranh giới giữa tiền tuyến và hậu phương đã hoàn toàn hòa làm một. Khối đại đoàn kết ấy đã tạo nên dòng chảy vật chất và tinh thần cuồn cuộn, giúp quân ta duy trì sức mạnh tiến công liên tục suốt 56 ngày đêm khoét núi, ngủ hầm để đi đến ngày toàn thắng 7 tháng 5 năm 1954.
Cho đến tận ngày nay, hình ảnh những đoàn dân công gánh gạo, những chiếc xe đạp thồ huyền thoại lưu danh trong sử sách vẫn mãi là một chứng tích sáng ngời của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhắc nhở chúng ta về cái giá của hòa bình và độc lập dân tộc.



