Những bước đầu tiên
ín hiệu thơ ca, của nghệ thuật nói chung dường như đến với mỗi chúng ta từ rất sớm. Khi mới lớn, hàng chuỗi hình ảnh, thanh âm của đời sống xung quanh đã gợi mở cho con người những tưởng tượng phong phú cùng nhiều cung bậc cảm xúc mới lạ. Những tín hiệu ấy đã dội vào tôi như một hồi chuông vừa dứt; nó ngân vang, lẩn quất trong tâm trí, tạo những phản ứng dây chuyền, đột khởi, hình dung về một thế giới khác, thanh sạch, bay bổng hơn đời sống chúng ta đang trải nghiệm. Những tín hiệu đầu tiên về thế giới khác lạ ấy đã vẫy gọi, dẫn dụ tôi dấn thân vào cuộc sáng tạo.
Tôi sinh ra trong một gia đình Công giáo. Từ thuở ấu thơ, bà nội tôi chính là vị "Thừa sai"(1) đầu tiên đã rao giảng Phúc Âm cho tôi, dạy tôi biết yêu thương, tha thứ và sống cho tha nhân. Từ ấy, tôi được sống, được chiêm ngẫm ý nghĩa của các Bí tích(2) trong Công giáo cùng kinh bổn và những bài thánh ca. Đồng thời, qua những câu chuyện dân gian mà bà tôi thường kể, qua những câu ca dao, làn điệu dân ca và đồng dao ở vùng quê Bắc Bộ, khiến tôi say mê những câu chuyện ly kỳ và hấp dẫn trong dân gian, được thưởng thức những tác phẩm văn học tiêu biểu của một số dân tộc qua các thời đại. Những năm tháng ấy đã mở ra trong tôi một thế giới tuyệt đẹp, nơi không có những thói hư, tật xấu của con người, nơi cái thiện luôn chiến thắng cái ác, sự chân thật thường lấn át những điều gian dối...
Tín hiệu thơ ca thuở nào đã gieo vào tôi những mầm cây, hạt giống. Và, những cái cây xanh ấy dần trưởng thành, cho tôi thêm bao khát khao, hy vọng. Tôi hy vọng đến lúc nào đó có thể viết lại những điều đẹp đẽ từng hiện ra trong tâm tưởng mình, vẽ lại hình hài cuộc sống theo cách của riêng mình. Tôi nhận thức rằng, thơ là ánh sáng khai thị cho con người bằng nghệ thuật ngôn từ, làm hiển lộ vẻ đẹp tâm hồn người viết, kiến tạo một không gian mới, cõi sống khác. Đó thực sự là những vẻ đẹp tinh tuyền và quyến rũ, khúc xạ tâm hồn người viết, phản chiếu nền văn hóa của mỗi vùng đất, mỗi dân tộc.
Thơ ca mang vẻ đẹp và quyền năng riêng. Nó mời gọi, lôi cuốn người đọc, thanh lọc họ, làm cho họ trở nên thánh thiện, cao đẹp hơn. Vẻ đẹp của thơ thường mang nét riêng, khác với những loại hình nghệ thuật khác; nó ít khi gây choáng ngợp tức thì mà đằm sâu, êm êm nồng nàn như một thứ rượu quý. Vẻ đẹp ấy cũng không áp đặt, thống trị mà đến với người đọc một cách chân thành và tự nhiên, qua cánh cửa trái tim. Câu thơ Tiếng sen khẽ động giấc hòe/ Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần trong Truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du mang một vẻ đẹp bí ẩn, vi diệu. Tác giả đã sử dụng tài tình phép hoán dụ, tả cái đẹp mà ko cần dùng đến từ "đẹp", và đặc biệt hơn, các từ ngữ trong câu thơ trên đều diễn tả sự mong manh, yên lắng, nhưng người đọc cảm nhận như chúng đang giao thoa, động rộn... Ngoài ra, thơ còn có những quyền năng khác thường, có thể mang đến cho con người nghị lực sống, lòng can cảm để vượt qua những khó khăn, thử thách; nó kết nối con người với con người, gắn liền cá nhân với thế giới xung quanh. Những câu thơ mang hồn thiêng sông núi trong bài thơ thần Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt và những lời tuyên cáo trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi luôn vang vọng qua nghìn năm, tới tận hôm nay và mãi sau này.
Thơ ca sớm đến với tôi như một lẽ sống, tự nhiên như hơi thở, như dấu chân trên mặt đất. Mỗi ngày, quyền năng và vẻ đẹp của thơ càng vẫy gọi tôi dấn thân vào con đường sáng tạo. Tuổi đôi mươi tôi có tập làm thơ, ghi lại những trải nghiệm, giãi bày những biến động nơi tâm hồn mình. Nhưng sau đó đọc lại những bài thơ mình đã viết, tôi thấy ánh sáng trong đó còn nhờ nhạt, ít sáng tạo. Phải đến năm bước vào tuổi 37 tôi mới thực sự nhận được "Ơn gọi(3)". Tôi nhớ một chiều mùa hè năm 1990, khi ấy con gái Ngọc Trâm của tôi mới ba tuổi, bị sốt cao mà không chịu uống thuốc. Để cứu chữa con gái bé bỏng qua cơn nguy kịch, tôi đã ép con uống hết chén thuốc. Sau đó không lâu con gái tôi đã hạ sốt. Đặt chiếc chén đã cạn thuốc lên bệ cửa sổ, lòng tôi rối bời với nhiều liên tưởng. Và tôi đã viết rất nhanh bài thơ



