Những bước đi đầu tiên của ngành công nghiệp luyện kim
Về Tổ quốc trong không khí cả nước đang sôi sục bước vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, kỹ sư Võ Quý Huân được đồng chí Phạm Văn Ðồng, khi đó là Bộ trưởng Bộ Kinh tế phân công giữ cương vị Chánh Văn phòng Bộ.
Ngày 19/12/1946, toàn quốc kháng chiến, Võ Quý Huân chỉ huy sơ tán 2 nhà máy Xe lửa Tràng Thi và Điện Bến Thủy lên rừng núi phía tây. Các nhà máy Kinh tế 1, 2, 3 cùng trường Cán bộ kỹ thuật Trung Bộ lần lượt được thành lập.
Tại Nhà máy Kinh tế 3, lò cao sản xuất gang đầu tiên đã được xây dựng, phục vụ kháng chiến, sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến, do kỹ sư Võ Quý Huân làm giám đốc kiêm “tổng công trình sư” thiết kế.

Kỹ sư Võ Quý Huân và mẫu lò cao, cùng tượng mẫu bán thân Chủ tịch Hồ Chí Minh, chuẩn bị trưng bày tại triển lãm năm 1949.
Tại Nhà máy Kinh tế 3, lò cao sản xuất gang đầu tiên đã được xây dựng, phục vụ kháng chiến, sau được gọi là Nhà máy Kim khí kháng chiến

Lò cao kháng chiến Hải Vân tại Như Xuân, Thanh Hóa. (Ảnh: TTXVN)
Tháng 4-1947, Võ Quý Huân được tổ chức phân công đảm trách cương vị Giám đốc Sở Khoáng chất - Kỹ nghệ Trung Bộ kiêm Tổng Thư ký Hội đồng sản xuất Kỹ nghệ miền nam và Liên khu IV.
Tháng 10/1947, kỹ sư Võ Quý Huân đã nghiên cứu chế tạo chiếc máy nghiền bột giấy đầu tiên của Liên khu 4. Cùng năm đó, ông chế tạo được máy tiện, máy hơi các loại lớn nhỏ, giúp khắc phục tình trạng thiếu máy móc tại các công xưởng ở Liên khu 4.

Kỹ sư Võ Quý Huân.
Được sự giúp đỡ hết sức nhiệt tình của cấp ủy Ðảng, chính quyền Liên khu 4, Cục Quân giới (Bộ Quốc phòng), nhất là được các đồng chí lãnh đạo cao cấp của Ðảng ủy và Ủy ban hành chính kháng chiến Liên khu 4 là Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Chí Thanh, Lê Viết Lượng trực tiếp chỉ đạo giúp đỡ, Giám đốc Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung Bộ Võ Quý Huân đã tích cực bắt tay vào công cuộc xây dựng nền móng của ngành đúc, luyện kim trong kháng chiến, trước mắt là phải khẩn trương nghiên cứu, sản xuất ra gang ở quy mô công nghiệp để chế tạo các loại vũ khí như mìn, lựu đạn... và cả các loại nông cụ để phục vụ sản xuất, sinh hoạt.
Tinh thần và kết quả làm việc của kỹ sư Võ Quý Huân tại mặt trận Liên khu IV không những được cấp ủy, chính quyền ghi nhận, mà còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm, động viên. Ngày 20-7-1947, tại chiến khu Việt Bắc, Bác đã gửi một bức thư cho bác sĩ Trần Hữu Tước, trong đó có nhắc đến "chú Huân" và "chú Nghĩa".
Thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi bác sĩ Trần Hữu Tước ở Việt Bắc ngày 20/9/1947:
“... Nói chú biết, chú mừng. Tôi vẫn mạnh khỏe luôn. Mấy anh em cùng về một lần với chúng ta, chú Nghĩa và chú Huân làm việc rất hăng hái và đắc lực, đã gắng sức rất nhiều trong công việc kháng chiến”.
Sau những tháng ngày chạy đua với thời gian, một lò cao đã được xây dựng tại rừng Cầu Ðất thuộc huyện Con Cuông, miền tây tỉnh Nghệ An. Ngày 15/11/1948, lò cao thí nghiệm có dung tích nửa mét khối đã cho ra mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu một mốc son mới trong sự nghiệp phát triển công nghiệp quốc phòng và nền kinh tế kháng chiến của quân và dân ta.
Trước niềm vui này, các công nhân đã tha thiết đề nghị giám đốc cho dùng các thỏi gang đầu tiên đúc tượng Bác Hồ để cảm ơn Người đã đưa các trí thức yêu nước từ Pháp về, xây dựng lò luyện kim ngay trên quê hương Xô viết Nghệ Tĩnh, báo cáo với Bác “ngành Đúc - Luyện kim non trẻ sẵn sàng có sản phẩm phục vụ kháng chiến”.
Kỹ sư Võ Quý Huân bằng trí tưởng tượng của mình và kỷ niệm thời gian sống cùng Người ở Pháp đã thiết kế xong khuôn tượng bán thân. Ba công nhân (chưa một ngày học kỹ thuật đúc) đã mày mò trong 5 ngày và cho ra bức tượng của Bác. Bức tượng được chuyển về Sở Khoáng chất kỹ nghệ Trung bộ rồi đầu 1949 được đem đi triển lãm ở Liên khu IV, sau đó chuyển ra Việt Bắc.
Ngày 15/11/1948, lò cao thí nghiệm có dung tích nửa mét khối đã cho ra mẻ gang đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đánh dấu một mốc son mới trong sự nghiệp phát triển công nghiệp quốc phòng và nền kinh tế kháng chiến của quân và dân ta.
Trong hai năm (1951-1953), lò gang ở Như Xuân sản xuất được gần 400 tấn gang phục vụ các xưởng quân giới sản xuất vũ khí và một số nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Năm 1950, do yêu cầu của cuộc kháng chiến, cần tăng cường cán bộ cho mặt trận nghiên cứu thiết kế, chế tạo vũ khí, kỹ sư Võ Quý Huân được điều động lên Việt Bắc nhận nhiệm vụ Trưởng ban Kỹ thuật của Cục Quân giới.
Sẵn có vốn tri thức chuyên sâu và kinh nghiệm thực tế phong phú, cùng với nhiều loại tài liệu kỹ thuật mang từ Pháp về, kỹ sư Võ Quý Huân đã sát cánh cùng đồng nghiệp ở Viện Nghiên cứu quân giới giải quyết nhiều vướng mắc, khó khăn chế tạo lò điện hồ quang để nấu luyện thành công hợp kim đồng, kẽm, nhôm, gang xám.
Cuối năm 1950, mẻ thép đầu tiên luyện trong lò hồ quang thí nghiệm đã thành công ở Nà Làng (Tuyên Quang). Với kết quả đã đạt được, cuối năm 1951, Cục quân giới và nhà nghiên cứu kỹ thuật quyết định sản xuất gang xám để chuyển giao công nghệ cho lò cao sản xuất gang ở Như Xuân (Thanh Hóa) và trong hai năm (1951-1953) sản xuất được gần 400 tấn gang phục vụ các xưởng quân giới sản xuất vũ khí và một số nông cụ phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Năm 1954, mỗi ngày sản xuất liên tục cho ra lò 4-5 tấn và trong gần ba năm vừa xây dựng vừa sản xuất, lò cao kháng chiến Như Xuân cung cấp gần 500 tấn gang cho các xí nghiệp quân đội.
Từ thành công này, những quả lựu đạn, trái mìn và nhiều loại vũ khí do Quân đội nhân dân Việt Nam sáng tạo được xuất xưởng đại trà bởi nhà thiết kế Trần Đại Nghĩa và gang của kỹ sư Võ Quý Huân đã góp phần vào những thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp trường kỳ 9 năm.
Trở về Hà Nội sau 9 năm kháng chiến, đầu năm 1955, kỹ sư Võ Quý Huân được giao trọng trách Hiệu trưởng Trường Kỹ nghệ thực hành (tiền thân của Trường Đại học Công nghiệp Hà Nội ngày nay), với nhiệm vụ đào tạo cán bộ kỹ thuật, công nhân lành nghề để phục vụ khôi phục công nghiệp sau chiến tranh.
Các thế hệ học trò của Võ Quý Huân như Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Trần Lum, Lê Ba, Vũ Đình Hoành... đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành đúc - luyện kim và công nghiệp Việt Nam.
Tháng 2/1955, khóa trung cấp kỹ thuật đầu tiên được khai giảng. Dù khó khăn, nhưng bằng tâm huyết của mình, ông vừa trực tiếp giảng dạy, vừa tranh thủ sự giúp đỡ của chuyên gia trong và ngoài nước để xây dựng bộ giáo trình đào tạo hệ trung cấp kỹ thuật đầu tiên ở Việt Nam.
Các thế hệ học trò của ông như Hà Học Trạc, Hoàng Bình, Nguyễn Đình Nam, Nguyễn Hựu, Nguyễn Thái Đồng, Trần Lum, Lê Ba, Vũ Đình Hoành... đều trở thành những cán bộ chủ chốt trong ngành đúc - luyện kim và công nghiệp Việt Nam.
Tháng 9/1967, do bị bệnh nặng, kỹ sư Võ Quý Huân mất khi mới 55 tuổi, để lại niềm thương tiếc cho gia đình và đồng nghiệp ngành đúc - luyện kim trong cả nước.



