Bài viết

NHỮNG CÁI CHẾT ÂM THẦM

Ký ức Trường Sơn năm 1973 không chỉ ghi dấu những con đường mở lối bằng mìn phá đá, mà còn khắc họa cuộc chiến thầm lặng, khốc liệt giữa sự sống và cái chết nơi bệnh xá chiến trường. KỂ CHUYỆN TRƯỜNG SƠN - SỐ 67 Phạm Việt Long Ngày 10/5/1973 Vì một vết bỏng ở chân, tôi phải đi bệnh xá C.12. Bây giờ, đường ô tô đã chạy vào tới Khu bộ. Đi theo đường xe ra sông Tranh. Gặp mấy chiếc commăngca đi vào hoặc đang đậu dọc đường. Sau mấy cơn mưa chiều, con đường có nhiều đoạn bị đọng nước, lầy lội. Tới sông Tranh, gặp con đường ô tô lớn. Một cái ngầm được đắp qua sông. Phía bên này, con đường đỏ tươi chạy bên bờ sông, bám theo các triền núi. Người ta đang làm thêm một con đường vòng lên trên ngầm, ở đoạn sông sâu - có lẽ bến phà sẽ là nơi ấy. Tiếng mìn phá đá nổ ầm vang, nối theo nhau. Tôi đi nhờ một chiếc xe tải - nó chở đầy chất nổ đóng bánh. Đường xóc vô kể. Có những đoạn đường chui qua những vạt rừng già râm mát thật đẹp. Gặp khá nhiều trạm xe và nhiều xe. Xen vào tiếng xe chạy ì ì, thỉnh thoảng lại ầm vang tiếng mìn phá đá. Chúng ta tiếp tục mở đường và củng cố đường. Từ 11/5/1973 Bắt đầu bản trường ca nhàn rỗi với những điệp khúc tẻ nhạt: sáng tập thể dục, ăn cơm, yên tĩnh, tiêm thuốc, trưa uống thuốc, ăn cơm, chiều thay băng, ăn cơm, tối tập “Cốc đại phong” và ngủ sớm. Cứ như vậy ngày tiếp ngày trôi qua. Tuy nhiên, sinh hoạt đảng và sinh hoạt hội đồng thương bệnh binh được duy trì đều. Bệnh viện là nơi tập trung của các loại vi trùng, đặc biệt là vi trùng sốt rét. Chúng đến đây và đua nhau trổ tài hành hạ con người: có tên làm người ta sốt đùng đùng, có tên làm người ta sốt hâm hấp nhưng sưng lách, có tên làm người ta nằm liệt, mê man. Đặc biệt, đầu tháng 6 có một ca nguy kịch: đồng chí Hải, một thanh niên người miền Bắc, bị sốt ác tính. Bệnh viện cứu chữa Hải với đầy đủ thuốc và cho người trực suốt ngày đêm. Song, tình hình chưa có gì sáng sủa cả. Bệnh nhân gầy rộc đi, nằm thoi thóp. Cái chết đã hiển hiện trên khuôn mặt: má hóp, răng nhô ra, môi khô lạnh và đặc biệt

Hà Nội12/08/2026Xã Tân An (Đoàn xã Tân An)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ký ức Trường Sơn năm 1973 không chỉ ghi dấu những con đường mở lối bằng mìn phá đá, mà còn khắc họa cuộc chiến thầm lặng, khốc liệt giữa sự sống và cái chết nơi bệnh xá chiến trường.

KỂ CHUYỆN TRƯỜNG SƠN - SỐ 67 Phạm Việt Long

Ngày 10/5/1973

Vì một vết bỏng ở chân, tôi phải đi bệnh xá C.12.

Bây giờ, đường ô tô đã chạy vào tới Khu bộ. Đi theo đường xe ra sông Tranh. Gặp mấy chiếc commăngca đi vào hoặc đang đậu dọc đường. Sau mấy cơn mưa chiều, con đường có nhiều đoạn bị đọng nước, lầy lội.

Tới sông Tranh, gặp con đường ô tô lớn. Một cái ngầm được đắp qua sông. Phía bên này, con đường đỏ tươi chạy bên bờ sông, bám theo các triền núi. Người ta đang làm thêm một con đường vòng lên trên ngầm, ở đoạn sông sâu - có lẽ bến phà sẽ là nơi ấy. Tiếng mìn phá đá nổ ầm vang, nối theo nhau.

Tôi đi nhờ một chiếc xe tải - nó chở đầy chất nổ đóng bánh. Đường xóc vô kể. Có những đoạn đường chui qua những vạt rừng già râm mát thật đẹp. Gặp khá nhiều trạm xe và nhiều xe. Xen vào tiếng xe chạy ì ì, thỉnh thoảng lại ầm vang tiếng mìn phá đá. Chúng ta tiếp tục mở đường và củng cố đường.

Từ 11/5/1973

Bắt đầu bản trường ca nhàn rỗi với những điệp khúc tẻ nhạt: sáng tập thể dục, ăn cơm, yên tĩnh, tiêm thuốc, trưa uống thuốc, ăn cơm, chiều thay băng, ăn cơm, tối tập “Cốc đại phong” và ngủ sớm. Cứ như vậy ngày tiếp ngày trôi qua. Tuy nhiên, sinh hoạt đảng và sinh hoạt hội đồng thương bệnh binh được duy trì đều.

Bệnh viện là nơi tập trung của các loại vi trùng, đặc biệt là vi trùng sốt rét. Chúng đến đây và đua nhau trổ tài hành hạ con người: có tên làm người ta sốt đùng đùng, có tên làm người ta sốt hâm hấp nhưng sưng lách, có tên làm người ta nằm liệt, mê man. Đặc biệt, đầu tháng 6 có một ca nguy kịch: đồng chí Hải, một thanh niên người miền Bắc, bị sốt ác tính. Bệnh viện cứu chữa Hải với đầy đủ thuốc và cho người trực suốt ngày đêm. Song, tình hình chưa có gì sáng sủa cả. Bệnh nhân gầy rộc đi, nằm thoi thóp. Cái chết đã hiển hiện trên khuôn mặt: má hóp, răng nhô ra, môi khô lạnh và đặc biệt là đôi mắt, đôi mắt mở, không chớp, bạc mầu, dài dại, dường như không còn nhận biết gì mọi hình ảnh ngoài đời nữa.

Nằm ở đây nơm nớp lo bị vi trùng sốt rét tấn công. Do vậy phải chủ động tấn công nó trước và phòng ngự tích cực. Xẩm tối nào cũng đốt một đống lửa to rồi tấp lá tươi lên tạo thành đám khói dữ dội bao trùm cả nhà, lùa vào các ngõ ngách xua muỗi đi. Rồi đi bít tất, thả tay áo cho dài và phủ bọc võng cho kín. Các cô y tá luôn đi kiểm tra bọc võng bệnh nhân. Rồi uống thuốc phòng nữa. Mong rằng ta sẽ thắng.

Ngày 13/5/1973

10 giờ 15’, Đoàn Văn Hải từ trần. Vi trùng sốt rét đã đầu độc trung ương thần kinh và phá huỷ hồng huyết cầu với mức độ quyết liệt. Chúng tôi đưa Hải đi vào buổi chiều trời đầy mây. Hoàn cảnh tương đối thuận lợi này khiến chúng tôi có thể chôn cất Hải một cách đàng hoàng. Lòng bùi ngùi thương xót người đồng chí chưa từng quen ấy. Người thanh niên 24 tuổi ấy đang học năm thứ nhất Đại học thì xung phong đi bộ đội và vào đây chiến đấu.

Có lẽ, ở chiến trường, bệnh sốt rét là kẻ thù lớn nhất trong các kẻ thù không vũ khí cướp đi sự sống của chúng tôi. Tôi còn nhớ, Thuý Ngân đã kể cho tôi nghe rằng, vào năm 1969, trung đội của Ngân đóng ở núi cao, giá lạnh, cả đơn vị bị sốt rét, sáng nào cũng có một hai cô gái qua đời. Đâm ra ai cũng sợ giấc ngủ - cứ ngủ là thiếp đi luôn. Nguyên nhân chỉ vì sốt rét, kèm với bệnh ghẻ và cái lạnh hoành hành.

Trong chiến trường, qua 5 năm đối mặt với chiến tranh, tôi đã chứng kiến bao nhiêu cái chết, với bao nhiêu kiểu chôn cất khác nhau:

Các nguyên nhân hy sinh: Bị sát thương do bom đạn (bom bi, bom phá, bom na pan, đạn pháo, đạn súng cối, đạn súng cá nhân...); Bị ốm đau mà chết (sốt rét, thương hàn, suy kiệt); Bị nạn (rắn cắn, hổ vồ, lũ cuốn, cây đè, núi lở...).

Những cảnh huống ngã xuống: Đang ngủ bị trúng bom tan xác; đi đường bị địch phục kích ngã gục bên vệ cỏ; thiếp đi trên võng trong cơn sốt lạnh dần để thầm lặng đi vào cõi vĩnh hằng; vượt sông mùa nước lớn bị nước nhấn chìm.

Những cách thức chôn cất:

Hạ huyệt chuẩn chỉnh: Bọc trong võng, trong ni lông — đây là kiểu chu đáo nhất vì không thể tạo bộ hòm áo quan.

Mộ đá: Vùng toàn đá không thể đào hố, đành khuân đá xếp dần phủ lên thi thể.

Mộ nổi: Đồng chí bị phục kích hy sinh, thi thể đã thối rữa không thể di chuyển, đành tấp ni lông rồi đắp đất dần thành mộ.

Trường hợp đặc biệt: Chết trôi mùa bão lũ, xác gác trên ngọn cây khi nước rút.

Chết nhiều kiểu. Chôn nhiều cách. Nhưng có một điều chung: hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn