Bài viết

NHỮNG CẢM XÚC, CÂU CHUYỆN VỀ CON NGƯỜI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG SINH HOẠT, LAO ĐỘNG ĐỂ LÀM NỔI BẬT LÊN NHỮNG PHẨM CHẤT TIÊU BIỂU: CẦN CÙ, SÁNG TẠO, NGHĨA TÌNH, KIÊN CƯỜNG VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, NHẰM GHI NHẬN VÀ TÔN VINH NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CON NGƯỜI THÀNH PHỐ TRONG CÁC LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG

29/09/2026Đoàn phường Bình Cơ (Phường Bình Cơ)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thành phố Hồ Chí Minh nằm ở vị trí trung tâm Nam Bộ, giữ vai trò kết nối Đông – Tây, tạo ra những động lực quan trọng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện trong nhiều lĩnh vực cho khu vực Nam Bộ.

Ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á – nối liền giữa Nam Á và Đông Bắc Á, nằm trên hành lang của trục lộ giao thông hàng hải quốc tế nối liền Thái Bình Dương qua Ấn Độ Dương, Thành phố Hồ Chí Minh đã là hải cảng từ khoảng 300 năm trước. Vị trí chiến lược này tạo nên tiềm năng lớn để phát triển đa dạng về kinh tế, văn minh biển trong quá trình giao lưu, tiếp xúc với các nước Đông Nam Á, cả châu Á và sau đó là các nước phương Tây.

Nơi đây chịu ảnh hưởng mạnh từ khí hậu nhiệt đới gió mùa, cận xích đạo. Lại nằm trên “bao lơn” của Biển Đông, kéo dài xuống phía Nam, hướng vào vịnh Thái Lan nên còn chịu tác động bởi khí hậu hải dương khá rõ nét.

Khí hậu, thổ nhưỡng ôn hoà, ít bão đã phát huy hành trang “văn hoá lúa nước”. Tuy nhiên, cần khai phá, thích ứng và cải tạo để Thành phố Hồ Chí Minh trở thành vùng giàu tiềm năng, thuận lợi để phát triển văn hoá, kinh tế.

Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh là nơi phát triển nhộn nhịp, chịu ảnh hưởng của nền văn minh sông nước khi có hệ thống sông ngòi – kênh rạch dày đặc và nối liền với Đồng bằng sông Cửu Long. Quá trình hội nhập làm nên nét riêng biệt về văn hoá so với Đồng bằng sông Cửu Long về các phương diện ăn – mặc – ở – phương tiện đi lại, cấu trúc văn hoá “làng” truyền thống cũng thay đổi.

Người dân Thành phố Hồ Chí Minh mang đặc trưng phong cách người Nam Bộ: chất phác, thẳng thắn, trung thực, phóng khoáng, hoà đồng. Trải qua thời gian, Thành phố sầm uất, ồn ào hơn nhưng bản tính người dân nơi đây vẫn vậy. Phong cách ấy hiện hữu trong mỗi cộng đồng dân cư như một mẫu số chung, trên nền tảng ấy, mỗi cá nhân thoả sức sáng tạo, phát huy sở trường. Ở họ, luôn có “phong cách khoan dung, khoáng đạt, tinh thần nghĩa hiệp, nhân hậu và nặng nghĩa tình”.

Không đâu như ở Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, lòng tốt được thể hiện một cách hào hiệp. Ở lâu, con người sẽ được “cảm hoá”, mỗi người dân là người duy trì, lan toả phong cách hào hiệp của con người nơi này – Thành phố đáng yêu, đáng sống.

Bản chất nhân văn Việt Nam nổi bật ở những phẩm chất cao đẹp nhất, đó là lòng nhân ái - đạo đức làm người và tinh thần yêu nước. Nếu lòng nhân ái được xem là cái gốc của đạo đức, thì đạo đức lại là cái gốc của con người. Để rồi, tất cả được biểu hiện đầy đủ và cao nhất ở tinh thần yêu nước. Nói cách khác, yêu nước là một biểu hiện ngời sáng của tinh thần nhân văn, tư tưởng nhân văn và truyền thống nhân văn Việt Nam. Người dân của một đất nước mà từ ngàn năm luôn có “một lòng nồng nàn yêu nước” và không chịu kiếp sống nô lệ lầm than. Vậy nên biên niên sử dân tộc này mới được khắc bằng hai nét bút đậm màu khát vọng - tinh thần - ý chí – quyết tâm “dựng nước” và “giữ nước”. Truyền thống ấy được hun đúc qua hàng vạn cuộc tranh đấu với kẻ thù ngoại bang. Từ thời đại Bà Trưng, Bà Triệu dưới ách đô hộ ngàn năm Bắc thuộc, đến 3 lần kháng chiến chống giặc Nguyên – Mông của quân dân nhà Trần, hay 10 năm khởi nghĩa Lam Sơn xóa bỏ hoàn toàn ách đô hộ nhà Minh... Để đến thời đại Hồ Chí Minh, tinh thần yêu nước càng vụt sáng bằng vô vàn chiến công oanh liệt, mà đỉnh cao là Cách mạng Tháng Tám, Chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ và Đại thắng mùa xuân 1975.

Có một chân lý tưởng chừng vô cùng đơn giản, nhưng cũng là chân lý cao cả, vĩ đại nhất về đức hy sinh cao thượng của con người. Chân lý ấy đã được con người Việt Nam thực hành qua vô số cuộc tranh đấu giành, giữ quyền tự quyết cho dân tộc này. Rằng “những con người xứng đáng hơn ai hết quyền được sống trên cõi đời này, nhưng đã lẳng lặng chấp nhận quy luật đơn giản của chiến tranh: Mình chết thì bạn mình sống!”. Có thể, trong thời khắc chỉ có một sự lựa chọn duy nhất và thời gian không cho họ suy nghĩ quá nhiều, thì cái phần nhân tính – bản tính tốt đẹp trong con người, đã trỗi dậy và chiến thắng những toan tính vị kỷ? Song, nhìn ở khía cạnh nhân văn, thì sự hy sinh - dẫu là quy luật nghiệt ngã của chiến tranh - luôn cho thấy cái đẹp của tình người, tình đồng đội, đồng chí, đồng bào trong nghịch cảnh. Tinh thần ấy chỉ có thể được lý giải bằng sức mạnh tinh thần đã được hun đúc từ trường kỳ lịch sử, mà thấm sâu vào máu, vào hơi thở và tiềm thức của dân tộc này. Đó cũng chính là biểu hiện cao nhất của “một lòng nồng nàn yêu nước” của mỗi người dân Việt Nam.

Đất nước đau thương, con người không thể có hạnh phúc. Vậy nên, từ trong chiến tranh gian khổ, đồng bào ta luôn sẵn sàng hy sinh sinh mạng, tài sản để nuôi cán bộ, đùm bọc cơ sở cách mạng, sẵn sàng đánh trả kẻ thù mà “thóc không thiếu một cân, quân không thiếu một người”, thậm chí còn làm nên những “kỳ tích” trong lao động sản xuất để làm chỗ dựa cho tiền tuyến. Đất nước có chiến tranh, lòng yêu nước được biểu hiện rạng rỡ như pha lê dưới ánh mặt trời. Còn khi đất nước hòa bình, thì lòng yêu nước cần được hiểu như thế nào cho đúng? Khi mà dải đất này vẫn đang phải oằn mình gánh chịu biết mấy tai ương và sự tàn phá của thiên tai, địch họa. Chưa hết, đất nước đang căng sức chống chọi với muôn vàn khó khăn buổi “giao thời” đi lên xã hội văn minh. Do vậy, mỗi con người của dân tộc này càng không thể làm ngơ với bổn phận và trách nhiệm công dân. Cũng giống như cái cây bị quăng quật giữa sa mạc thì không thể sống; con người nếu tách mình ra khỏi cộng đồng, thì khó có thể tồn tại đúng với giá trị làm người. Huống chi, cái sự vinh thịnh của quốc gia - dân tộc cũng chính là cái vinh thịnh cho mỗi người của đất nước này! Vậy nên, thay vì được lưu giữ như một di sản quý giá; thì tinh thần yêu nước càng cần được thực hành thường xuyên, với những biểu hiện mới và những giá trị mới.

Tinh thần nhân văn hay lòng nhân ái, khoan dung là một giá trị mà loài người tiến bộ luôn trân trọng và bảo vệ. Còn với dân tộc Việt Nam, truyền thống quý báu ấy đã thấm rất lâu và thấm rất sâu để trở thành cái phần bản chất tốt đẹp trong mỗi con người. Để rồi, đất nước ngàn năm văn hiến, quật cường và anh dũng này, đã từng “lấy chí nhân để thay cường bạo” hay “đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại”. Đồng thời, có vô vàn minh chứng rằng người Việt Nam trong suốt dặm dài lịch sử, luôn đặc biệt đề cao, coi trọng đạo đức, đạo lý sống và nhân cách làm người. Làm người đó là sống có đạo lý, hợp lẽ đời, khoan dung, nhân nghĩa, yêu nước, thương nòi, với triết lý cao cả “Thương người như thể thương thân” mà ít có dân tộc hay quốc gia nào trên thế giới có thể sánh được. Triết lý giáo dục con cháu của ông cha ta luôn được bắt đầu bằng “tiên học lễ”, rồi mới đến “hậu học văn”. Đề cao quan hệ nhân nghĩa, trọng tình thương và lẽ phải, đó là những nét chủ đạo trong văn hóa Việt Nam. Đồng thời, cũng là nền tảng làm nên mạch nguồn đạo lý làm người và mạch nguồn truyền thống chảy mãi đến vô cùng của dân tộc Việt Nam. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng răn dạy, rằng người có đạo đức là người cao thượng và rằng một dân tộc dù kinh tế còn lạc hậu, nhưng có được đạo đức cần, kiệm, liêm, chính thì vẫn xứng đáng là một dân tộc văn minh!

Như có người đã chỉ ra, nhân văn là giá trị mang tính phổ quát của cái Chân – Thiện - Mỹ. Nó thuộc bản chất người và là hiện thân của thiên hướng vươn lên và hoàn thiện không ngừng của chính con người. Do vậy, nhân văn bao giờ cũng là lý tưởng và mục tiêu loài người vươn tới. Nó tồn tại và biến thiên, ngày càng thể hiện sức sống mãnh liệt trong suốt tiến trình đi lên của xã hội. Còn đối với dân tộc Việt Nam, tinh thần nhân văn với các giá trị và biểu hiện tốt đẹp, cao cả của nó, luôn được dưỡng nuôi trong những trái tim tràn nhiệt huyết yêu thương. Đồng thời, nó được nảy nở và phát triển trong môi trường xã hội – dân tộc luôn đề cao đạo lý “Nhiễu điều phủ lấy giá gương/ Người trong một nước phải thương nhau cùng”. Để rồi, tư tưởng nhân văn, tinh thần nhân văn dẫu nội hàm rộng, đa dạng, phong phú đến đâu, thì với dân tộc Việt Nam, nó luôn được hiện thực hóa thành những hành động, việc làm hết sức ý nghĩa, thiết thực. Tinh thần nhân văn ấy có sức lan tỏa như một lời hiệu triệu của trái tim và tạo ra sức mạnh vật chất, tinh thần to lớn, để đưa dân tộc vượt qua thời khắc gian nan. Và để cho những thách thức ấy của hiện tại, sẽ gom góp thành nền tảng giá trị tinh thần vô giá và tạo ra mầm sống mãnh liệt cho tương lai!

Chắc hẳn trong mỗi chúng ta sẽ không quên đại dịch covid vào năm 2020. Có thể cho chúng ta tháy được nghĩa tình của những người dân thành phố. Song bên cạnh đó chúng ta cũng an ủi được phần nào với những hình ảnh, những video là những tấm lòng hảo tâm, những con người xa lạ mà giờ như thân quen, họ sẵn sàng giúp đỡ nhau, chia sẻ từ những điều nhỏ nhất, từ gói mì tôm, con cá hay những bó rau…tưởng chừng như rất quen thuộc và dễ dàng có thể mua được bất cứ lúc nào, nhưng chúng ta đang trong thời chống giặc “DỊCH” thì những món đồ đó đáng quý biết bao nhiêu, điều đáng trân trọng, quý hơn bao giờ hết chính là tình yêu thương giúp đỡ của mọi người trong thời gian rất khó khăn như thế này. Những quán cơm 0 đồng, những bình xăng miễn phí hay chúng ta dễ thấy được những bữa cơm trưa do các nhà hảo tâm đi phát cho những người nghèo khổ, khó khăn đã làm cho họ thêm niềm tin vào cuộc sống, hay những tấm chăn, những gói đồ ăn là món quà quý giá với những mảnh đời phải sống lay lắt trong đêm lạnh, vì khi một ai đó rời quê chỉ mong lập nghiệp để có cuộc sống tốt hơn nhưng ai đâu ngờ đến cảnh đầu đường xó chợ như vậy, nhờ tinh thần tương thân tương ái, giúp đỡ những người nghèo khổ khó khăn của người dân Việt Nam đã giúp họ một phần nào đó và họ thấy rằng Việt Nam không để ai phía sau cả. Những tấm lòng ấy thật trân quý. Con người Việt Nam chúng ta mãi là thế, luôn “Lá lành đùm lá rách”, chia sẻ từ những điều nhỏ nhặt nhất. Trong đại dịch này khi chúng ta vô tình lướt trên mạng hay tivi… thì rất dễ thấy những chuyến thiện nguyện mà các tổ chức, hay một cá nhân nào đó làm, thật sự những điều đó làm tôi rất là xúc động và cảm thấy tự hào mình là một người con của Việt Nam.

Thế mới thấy, trong hoạn nạn đau thương, con người ta như đoàn kết, xích lại gần nhau hơn, và tình dân tộc - nghĩa đồng bào càng thêm bền chặt, gắn kết yêu thương nồng ấm đến khôn cùng.

Thành phố Hồ Chí Minh - Thành phố của những trái tim ấm áp!




.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
NHỮNG CẢM XÚC, CÂU CHUYỆN VỀ CON NGƯỜI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRONG SINH HOẠT, LAO ĐỘNG ĐỂ LÀM NỔI BẬT LÊN NHỮNG PHẨM CHẤT TIÊU BIỂU: CẦN CÙ, SÁNG TẠO, NGHĨA TÌNH, KIÊN CƯỜNG VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, NHẰM GHI NHẬN VÀ TÔN VINH NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA CON NGƯỜI THÀNH PHỐ TRONG CÁC LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG | Câu chuyện thời hoa lửa