Những câu chuyện cảm động về tình cảm của người tù Côn Đảo với Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhà tù Côn Đảo được biết đến là một trong những di tích lịch sử đặc biệt của Việt Nam, với hệ thống nhà tù gồm 127 phòng giam, 44 xà lim và 504 phòng giam biệt lập Chuồng Cọp, khu Chuồng Bò từ thời Pháp. Thời Mỹ-Ngụy hệ thống nhà tù được mang những tên rất hoa mỹ như: Trại Phú Hải, Trại Phú Sơn, Trại Phú Thọ, Trại Phú Tường, khu biệt, Trại Phú An, Trại Phú Phong và Trại Phú Hưng. Nhưng lại là nơi đày ải và giết dần, giết mòn cả thể xác và tinh thần hàng ngàn người tù yêu nước “Dùng chế độ tù đày khắc nghiệt để hành hạ, giết dần giết mòn người tù, đè bẹp ý chí phản kháng của họ, răn đe những người còn ở ngoài đời, làm cho họ khi ra tù thì tinh thần bạc nhược khiếp sợ, thân thể tàn phế, không còn làm gì chống lại “mẫu quốc” và chế độ thống trị ở thuộc địa”(1). Cũng chính ở đây, những chiến sĩ cách mạng đã kiên cường đấu tranh, giữ vững khí tiết cách mạng. Cội nguồn của niềm tin và sức mạnh đó được bắt nguồn từ lý tưởng cách mạng, từ tình cảm với Đảng, với Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu. Trong chốn ngục tù, hình ảnh Bác Hồ luôn là nguồn cổ vũ, động viên lớn lao đối với những chiến sĩ cách mạng.
1. Ký ức khó quên của người tử tù chính trị trong dịp sinh nhật Bác
Vào một ngày năm 1948, thời kỳ kháng chiến chống Pháp, những tử tù chính trị gồm các đồng chí Nguyễn Ngọc Sớm, Nguyễn Đình Thâu, Hoài Cư, Thịnh, Bảy, Rô… bị bắt đày đến một khám tù cạnh Hầm Xay Lúa. Ở khám được một vài ngày, các tử tù quyết định sẽ tổ chức sinh nhật của Bác trong nhà tù vừa để “khơi dậy khí thế của người tù kháng chiến” vừa để thể hiện tấm lòng cảm kích, biết ơn chân thành của những người chiến sĩ cách mạng đối với vị Cha Già dân tộc. Để trang trí cho buổi lễ cần có cờ Tổ quốc và hình ảnh Bác, nhưng với các tù nhân bị xét tử hình, bị kiểm soát rất nghiêm ngặt làm thế nào để có cờ và ảnh Bác? Họ đã có một sáng kiến là khắc họa chân dung Người thông qua nét vẽ. Mỗi người một ý kiến nhưng đều thống nhất là ảnh Bác phải làm sao thể hiện được mấy nét chính: một ông cụ người không mập, có chòm râu dài, trán cao, tai to, mắt sáng, thông minh và nhân hậu. Công việc này được giao cho đồng chí Bẩy là người khéo tay nhất. Bức vẽ không thật sự giống Bác mà giống như nhiều ông già Việt Nam khác nhưng 17 người tử tù vẫn tin là Bác và gửi gắm vào đó cả lòng kính yêu, ngưỡng vọng của mình.
Thế mới biết khi người ta có một đức tin thì rất sâu lắng và bền vững. Đối với người tù chính trị Việt Nam ở các nhà tù đế quốc thì họ càng có tinh thần đấu tranh bất khuất, kiên cường đến kỳ diệu, khiến kẻ thù phải khâm phục. Trong hoàn cảnh càng khó khăn, thiếu thốn đủ điều, họ lại càng có nhiều sáng kiến mà kẻ thù không thể ngờ tới. Việc làm cờ trong khám tử hình là một bằng chứng như vậy. Các đồng chí xin gửi vào những cuộn giấy quấn thuốc lá, rồi bóc ra, vuốt phẳng, dán liền từng mảnh giấy thành một tờ to. Việc làm này đòi hỏi phải bí mật, thận trọng, nếu để lộ địch sẽ tịch thu giấy không cho gửi vào nữa và cũng vì loại giấy này rất mỏng, làm mạnh tay là rách. Màu đỏ của cờ thì lấy thuốc đỏ bôi lên, màu vàng của ngôi sao được tô bằng những viên thuốc ký ninh hòa với nước. Hai thứ ấy chỉ cần khai bệnh để xin là có.
Đã có ảnh Bác và cờ Tổ quốc, các tử tù nghĩ đến việc viết khẩu hiệu. Họ hút thuốc rê, hứng lấy tàn gom lại, rồi đốt lá bàng lấy than, trộn với tàn thuốc, hai thứ đó hòa vào nước, thế là được một thứ mực đen nhờ nhờ để viết. Mỗi người một việc, công việc cuốn hút mọi người, đến cả tù thường phạm cũng đến xin tham gia: “Các anh cho tôi cùng làm với. Hồ Chủ tịch là lãnh tụ của cả dân tộc, chúng tôi rất thương cụ, đừng bỏ rơi chúng tôi, tội nghiệp…”(2).
Vào 1 giờ sáng ngày 19/5/1948, lễ kỷ niệm được diễn ra theo đúng kế hoạch trong sự chuẩn bị kỹ lưỡng, sự hồi hộp và tình cảm chân thành, sâu lắng của 17 trái tim người tử tù. Cũng 9 giờ sáng ngày hôm đó, địch xuống khám tử hình bắt hạ cờ và ảnh Bác xong khóa trái cửa, không cho tử tù ăn cơm hay uống nước cho tới ngày 21/5. Mặc dù bị bỏ đói nhưng ai nấy đều lạc quan, vui vẻ, tràn đầy sức sống, hát vang những bài như “Lên đàng”, “Chiến sĩ ca”.
Sau ngày 19/5 năm ấy, nghe theo lời dạy của Bác rằng phải diệt giặc dốt, các đồng chí mở lớp dạy văn hóa, giúp đỡ động viên lẫn nhau học tập dẫu thường xuyên ở trong hoàn cảnh thiếu thốn đủ điều và bị bọn thực dân khám xét rất nghiêm ngặt. Sự cố gắng ấy đã được đền đáp bằng kết quả tốt đẹp, hầu hết mọi người trong tù đều được giảm án tử hình và sau khi ra tù đã có trình độ tương đương tú tài(3).



