Bài viết

Những câu chuyện còn sống mãi ở Thành cổ Quảng Trị

Không năm nào Lê Bá Dương không trở lại Thành cổ Quảng Trị. Với ông, đó không chỉ là một chuyến đi, mà là một cuộc hành hương. Mỗi lần đặt chân vào khu di tích, người cựu chiến binh lại lặng lẽ tụt giày, cởi tất, bước chân trần thật khẽ trên nền đất. Ông nói, giọng nghẹn lại: “Tôi không dám bước mạnh, sợ giẫm đau đồng đội. Mỗi tấc đất nơi này đều có xương thịt bạn tôi nằm lại.” Nỗi lòng ấy không chỉ của riêng ông. Với những người đã từng đi qua chiến tranh, Thành cổ Quảng Trị là mảnh đất thiêng,

Phú Thọ09/01/2026Đoàn xã Tân Lạc (Đoàn xã Tân Lạc)5 lượt xem0 lượt chia sẻ
Những câu chuyện còn sống mãi ở Thành cổ Quảng Trị

Không năm nào Lê Bá Dương không trở lại Thành cổ Quảng Trị. Với ông, đó không chỉ là một chuyến đi, mà là một cuộc hành hương. Mỗi lần đặt chân vào khu di tích, người cựu chiến binh lại lặng lẽ tụt giày, cởi tất, bước chân trần thật khẽ trên nền đất.

Ông nói, giọng nghẹn lại: “Tôi không dám bước mạnh, sợ giẫm đau đồng đội. Mỗi tấc đất nơi này đều có xương thịt bạn tôi nằm lại.”

Nỗi lòng ấy không chỉ của riêng ông. Với những người đã từng đi qua chiến tranh, Thành cổ Quảng Trị là mảnh đất thiêng, nơi ký ức không bao giờ ngủ yên. Khói hương trên Đài tưởng niệm chưa bao giờ tắt, và những câu chuyện về con người, về linh hồn của mảnh đất này vẫn âm thầm chảy cùng thời gian.

Những linh cảm kỳ lạ nơi đất thiêng Trong số những câu chuyện khiến nhiều người rưng rưng, có chuyện về ông Kỷ – người lặng lẽ trồng dừa, quét dọn trong khuôn viên Bảo tàng Thành cổ. Rồi câu chuyện của Hồ Uông, một nghệ sĩ điêu khắc gắn bó nhiều năm với Thành cổ, người từng kể rằng ông thường xuyên nhìn thấy một cán bộ đứng lặng, khói hương bay lên giữa lòng di tích.

Điều kỳ lạ là, đúng tại vị trí nghệ sĩ Hồ Uông từng “trông thấy”, năm 2000, Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị đã khai quật được một ngôi mộ liệt sĩ. Hài cốt nằm nguyên tư thế, trên vai còn xắc cốt, bên hông là khẩu súng lục – y hệt những gì ông từng mô tả.

Trong chiếc xắc cốt, giấy tờ được bọc cẩn thận bằng nilon Trung Quốc, hầu như còn nguyên vẹn. Nhờ đó, danh tính người lính được xác định: Lê Binh Chủng, quê Quỳnh Mỹ, Quỳnh Lưu, Nghệ An, Chính trị viên Tiểu đoàn 3, Tỉnh đội Quảng Trị.

Một mối tình lặng lẽ và cuộc đoàn tụ sau gần 30 năm Năm 1970, trên đường vào Nam chiến đấu, đơn vị của Lê Binh Chủng dừng chân tại Quảng Bình. Tại đây, anh gặp và yêu chị Phan Thị Biển Khơi – một nữ dân quân địa phương. Đám cưới của họ được tổ chức giản dị, gấp gáp, chỉ có vài đồng đội làm chứng. Chưa kịp báo tin cho gia đình, anh lại lên đường vào chiến dịch giải phóng Quảng Trị.

Anh không hề biết rằng, ở lại hậu phương, người vợ trẻ đã mang thai. Đứa con ra đời được đặt tên Lê Tường An. Năm 1972, khi đứa trẻ vừa tròn một tuổi, chị Biển Khơi nhận hung tin chồng hy sinh tại Thành cổ Quảng Trị.

Theo địa chỉ trong thư chồng để lại, chị ôm con ra Nghệ An ra mắt bố mẹ chồng. Nhưng vì chưa từng nhận được tin con trai lập gia đình, bố mẹ Lê Binh Chủng không tin, không chấp nhận con dâu và cháu nội. Người vợ trẻ lặng lẽ quay về, ở vậy nuôi con, giữ trọn một niềm tin âm thầm rằng sẽ có ngày con mình được trở về cội nguồn.

Gần 30 năm sau, hài cốt liệt sĩ Lê Binh Chủng được tìm thấy. Những kỷ vật còn lại, trong đó có hai bức thư chưa kịp gửi – một cho vợ, một cho bố mẹ – được trao tận tay gia đình. Đọc thư con trai, bố mẹ liệt sĩ bàng hoàng nhận ra sự thật. Họ tức tốc vào Quảng Bình đón con dâu và cháu nội về quê nhận họ. Một vết thương chiến tranh, sau gần ba thập kỷ, cuối cùng cũng được hàn gắn trong nước mắt đoàn tụ.

Những lá thư tiên cảm và lời dặn từ cõi sinh tử Trong không gian trưng bày của Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị hôm nay, bên cạnh kỷ vật của Lê Binh Chủng là hai bức thư của liệt sĩ Lê Văn Huỳnh, đề ngày 11/9/1972. Anh quê Thái Bình, nhập ngũ khi đang học dở năm cuối Đại học Xây dựng Hà Nội, cưới vợ chưa đầy một tuần đã khoác ba lô vào Nam.

Như một linh cảm về sự ra đi, trong thư gửi vợ, anh viết tỉ mỉ nơi mình sẽ nằm lại: qua sông Thạch Hãn, về làng Nhan Biều, cuối làng, bia khắc tên trên mảnh tôn. Ba tháng hai mươi ngày sau khi gửi thư, anh hy sinh trong chuyến tải hàng vượt sông.

Năm 2000, làm theo lời dặn của chồng, người vợ tìm vào Quảng Trị – và đã tìm thấy đúng ngôi mộ. Một câu chuyện có thật, đến rợn người, về một con người biết trước cái chết của chính mình giữa khói lửa chiến tranh.

Người còn sống đi tìm người đã khuất Không chỉ những câu chuyện được tìm thấy tình cờ. Có những người dành cả đời để đưa đồng đội về với gia đình. Nguyễn Thanh Bình, nguyên trinh sát Tiểu đoàn 808 bộ đội địa phương Quảng Trị, là một trong số đó.

Từng chiến đấu suốt 81 ngày đêm tại Thành cổ, ông không nỡ để đồng đội nằm lại trong quên lãng. Hễ có manh mối, dù nhỏ đến đâu, ông lại lặn lội đi tìm, không cần ai nhờ. Nhờ một linh cảm trong cơn đau đầu dữ dội năm 2001, ông tìm được hài cốt liệt sĩ Lê Thanh Viễn, rồi lần theo dấu vết suốt nhiều năm để đưa anh về với gia đình ở Quảng Ngãi sau 33 năm bặt tin.

Đến nay, ông Nguyễn Thanh Bình đã tìm được 12 phần mộ liệt sĩ, cả hữu danh và vô danh – một hành trình lặng thầm của nghĩa tình đồng đội.

Đất thiêng và ký ức không thể lãng quên Trong 81 ngày đêm năm 1972, quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã trút xuống thị xã và Thành cổ Quảng Trị 328.000 tấn bom, cùng hơn 600.000 viên đạn pháo. Mỗi mét đất nơi đây đều thấm đẫm máu xương của những người lính tuổi đôi mươi.

Những câu chuyện ở Thành cổ không chỉ là lịch sử. Chúng là ký ức sống, là lời nhắc nhở cho những người đang sống hôm nay về cái giá của hòa bình.

Và từ mảnh đất ấy, nhà báo – cựu chiến binh Lê Bá Dương đã viết nên những câu thơ khắc vào lòng người:

“Đò xuôi Thạch Hãn xin chèo nhẹ Đáy sông còn đó bạn tôi nằm Có tuổi đôi mươi thành sóng nước Vỗ yên bờ bãi mãi ngàn năm.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn