Bài viết

Những câu chuyện thời hoa lửa: 81 ngày đưa đò trên 'dòng sông máu'

Hưng Yên07/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Tiếng bom đạn còn vang vọng trong đầu, tiếng thét đau đớn gọi "mẹ ơi" vẫn chập chờn trong giấc ngủ. Có 4 năm làm du kích nhưng có lẽ điều đọng lại lớn nhất với bà Nguyễn Thị Thu sau này chính là 81 ngày đêm lịch sử chèo đò đưa bộ đội vượt dòng Thạch Hãn.

Vượt mưa bom bão đạn đưa đồng đội qua sôngNhững ngày cuối tháng 10, Quảng Trị bắt đầu vào mùa mưa, những trận mưa ào ạt khiến ruộng đồng chìm trong lũ, nước trên dòng Thạch Hãn dâng cao, đục ngầu chảy xiết. Những ngày mưa lớn như thế khiến nữ du kích Nguyễn Thị Thu (71 tuổi, xã Triệu Phong, Quảng Trị) nhớ về những ngày mưa dữ dội của hơn 50 năm trước. Ngày đó, từ trên trời không chỉ đổ nước mà còn trút cả bom, đạn, dưới mặt đất thì máu, mồ hôi và nước mắt của các chiến sĩ hòa vào từng tấc đất thành cổ.Mùa hè đỏ lửa năm 1972, bà Thu tròn 17 tuổi, tham gia lực lượng du kích tại địa phương. Ở tuổi trăng tròn, bà gặp gỡ, nên duyên với ông Nguyễn Câu (cũng 17 tuổi), con trai ông Nguyễn Con - một ngư dân làm nghề cào hến trên sông Thạch Hãn. Cả hai chỉ mới làm lễ dạm ngõ đơn sơ, chưa kịp đám cưới thì trận chiến nổ ra. Ông Câu sau đó vào miền Nam, bà Thu ở lại cùng bố chồng giúp bộ đội vượt sông Thạch Hãn.

"Lúc đó cả hai chúng tôi chưa tổ chức đám cưới, chỉ mới thăm hỏi nhưng cũng đã coi nhau như vợ chồng. Tôi tham gia lực lượng du kích địa phương, cùng bố chồng ở lại để phục vụ cách mạng, may thay hồi đó có chiếc đò làm phương tiện để đưa các chiến sĩ vượt sông, tiếp cận được thành cổ", bà Thu nhớ lại.

Di chứng bom đạn khiến bà Thu bây giờ nhớ nhớ quên quên. Thế nhưng có những ký ức không bao giờ rời khỏi trí óc, tiếng người bị thương gọi mẹ, tiếng rên la thất thanh, và những chuyến đò đêm mà bà biết nhiều người đi nhưng ít ai trở về.

"Kể từ khi chiến dịch bắt đầu, con đò của tôi đưa hàng ngàn chiến sĩ qua sông. Họ còn trẻ lắm, 18 - 20 tuổi. Đa phần là sinh viên các trường đại học ngoài Hà Nội mới gác bút cầm súng. Điều day dứt nhất là tôi đưa họ đi… nhưng chẳng mấy ai trở lại", bà Thu nghẹn ngào.

Gặp lại chiến sĩ năm xưa

Để bảo vệ Thành cổ Quảng Trị, hàng vạn sinh viên đã đặt bút xuống, khoác lên mình màu áo lính rồi tham gia huấn luyện chỉ trong vài tháng đã lập tức lên đường vào miền Nam. Đến Quảng Trị, họ được chia ra nhiều mũi, nhiều cánh quân để vượt sông Thạch Hãn, tiếp cận thành cổ và chiếc đò của bố con bà Thu chính là phương tiện sống còn.

"Ban ngày địch đánh ác liệt, máy bay quần thảo thả bom, bắn phá. Hầu hết những chuyến đò của tôi đều phải chèo vào ban đêm. Đêm tối như mực, chỉ khi có ánh lửa từ bom đạn lóe lên mới nhìn được mặt nhau một thoáng", bà Thu kể.

Thời điểm đó, ở khu vực gần Thành cổ Quảng Trị chỉ có duy nhất bà Thu cùng ông Con là người đưa bộ đội vượt sông. Ngoài chèo đò, cả hai còn làm người dẫn đường cho các chiến sĩ tiếp cận thành cổ. Bà kể chiếc đò chỉ có 1, mỗi ngày đưa được 10 chuyến, mỗi chuyến chở không quá 10 chiến sĩ, số còn lại bơi vượt sông."Có chiến sĩ bị thương nặng lắm, được tôi đưa về vừa đến bờ, chưa kịp chuyển đến trạm quân y thì đã hy sinh. Trước khi hy sinh, họ đau đớn gào thét gọi mẹ ơi, tôi xót xa vô cùng. Tuổi này, do di chứng bom đạn, tôi không nhớ rõ nhiều nhưng nhớ là trong hàng vạn chiến sĩ được tôi chở qua sông, sau này chỉ có 2 người còn sống được tôi chở về", bà Thu nói.

Chiến tranh khốc liệt chẳng để bà kịp nhớ mặt, nhớ tên hai chiến sĩ ấy. Thế rồi mãi 46 năm sau, có một cụ ông tóc bạc phơ vượt hàng trăm cây số từ miền Bắc vào Quảng Trị, tìm gặp lại nữ du kích đưa đò năm xưa.

"Đó là ông Phạm Hùng, cựu chiến sĩ thành cổ hiện đang sống tại Thái Nguyên. Gặp lại người chiến sĩ trẻ năm nào giờ tóc đã bạc phơ, tôi vui lắm nhưng cũng nghẹn ngào… bởi số được như ông Hùng ít quá", bà Thu kể.

Năm 2018, sau khi xem truyền hình về người đưa đò trên sông Thạch Hãn, ký ức gợi lại trong trí nhớ ông Hùng về một người đàn ông già, thân hình gầy gò cùng một nữ du kích gương mặt tròn, bầu bĩnh lái đò đưa chiến sĩ qua sông. Từ đó, ông Hùng quyết tâm tìm thông tin liên lạc để gặp lại.

NỤ CƯỜI TRÊN SÔNG THẠCH HÃN

Trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, giữa vô số kỷ vật từ chiếc mũ rách nát, những khẩu súng hoen gỉ, những đồ vật đã in lên mình sự khốc liệt của chiến tranh và màu cũ kỹ của thời gian thì lại xuất hiện một bức ảnh hiếm hoi của một cụ ông nở nụ cười tươi đang lái đò, bên cạnh là một nữ du kích ôm súng, phía sau là gần 10 chiến sĩ cũng đang nở nụ cười tươi.

Bức ảnh có tên Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức Thành cổ được nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính chụp vào năm 1972. Cụ ông lái đò và nữ du kích ôm súng trong bức ảnh chính là cụ Nguyễn Con và bà Thu.

"Năm 2007, tôi nhận được cuộc gọi hỏi rất kỹ về thông tin của bố tôi và vợ tôi. Họ hỏi có phải nhà tôi chèo đò trên sông Thạch Hãn không, tôi nói phải thì họ vui mừng rồi bảo sẽ vào gặp tôi", ông Nguyễn Câu nhớ lại.

NỤ CƯỜI TRÊN SÔNG THẠCH HÃN

Trong Bảo tàng Thành cổ Quảng Trị, giữa vô số kỷ vật từ chiếc mũ rách nát, những khẩu súng hoen gỉ, những đồ vật đã in lên mình sự khốc liệt của chiến tranh và màu cũ kỹ của thời gian thì lại xuất hiện một bức ảnh hiếm hoi của một cụ ông nở nụ cười tươi đang lái đò, bên cạnh là một nữ du kích ôm súng, phía sau là gần 10 chiến sĩ cũng đang nở nụ cười tươi.

Bức ảnh có tên Cha con lão ngư dân Triệu Phong chở bộ đội và vũ khí tiếp sức Thành cổ được nhiếp ảnh gia Đoàn Công Tính chụp vào năm 1972. Cụ ông lái đò và nữ du kích ôm súng trong bức ảnh chính là cụ Nguyễn Con và bà Thu.

"Năm 2007, tôi nhận được cuộc gọi hỏi rất kỹ về thông tin của bố tôi và vợ tôi. Họ hỏi có phải nhà tôi chèo đò trên sông Thạch Hãn không, tôi nói phải thì họ vui mừng rồi bảo sẽ vào gặp tôi", ông Nguyễn Câu nhớ lại.

Mẹ Thứ - Biểu tượng vĩnh hằng của Mẹ Việt Nam Anh hùng

- Suốt 30 năm, Mẹ cần mẫn đào hầm trong vườn để nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Bao đêm dài Mẹ thao thức canh nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà.

“Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ... Các anh không về... mình Mẹ lặng im”...., những ngày này, lời bài hát “Người mẹ của tôi” vang lên như chan chứa cõi lòng, ghi nhớ đến những bà Mẹ Việt Nam Anh hùng (VNAH), trong đó có Mẹ Thứ - biểu tượng vĩnh hằng của những người Mẹ Việt Nam Anh hùng. Mẹ Thứ, tên đầy đủ là Nguyễn Thị Thứ, đã không chỉ oằn mình chịu đựng mưa bom bão đạn của những năm tháng chiến tranh khốc liệt mà còn sống cùng nỗi đau mất con suốt những năm tháng còn lại của cuộc đời... Nhưng Mẹ vẫn sống, vẫn vững chãi giữa dòng đời như một biểu tượng vĩnh hằng của sức mạnh dân tộc Việt Nam.

14 lần tiễn người đi, 12 lần khóc thầm lặng lẽ

Mẹ VNAH Nguyễn Thị Thứ (SN 1904, theo giấy căn cước chế độ cũ Mẹ sinh năm 1902) tại xóm Rừng thuộc thôn Thanh Quýt, xã Điện Thắng Trung, Thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam. Mẹ Thứ có 12 người con (11 trai và 1 gái) thì 9 con trai hy sinh. Con đầu và cũng là con gái duy nhất - bà Lê Thị Trị là thương binh, cũng được trao tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam anh hùng (VNAH) khi có chồng và 2 con gái là liệt sĩ. Như vậy gia đình mẹ Thứ có 12 liệt sĩ.

Những năm tháng thanh xuân của Mẹ là cảnh liên tục chứng kiến chồng con vào chiến trường. Mẹ Thứ ở nhà tần tảo nuôi con và cháu khôn lớn. Suốt 30 năm, Mẹ cần mẫn cùng các con đào hầm trong vườn để nuôi giấu chiến sĩ cách mạng hoạt động bí mật ngay trong lòng địch. Bao đêm dài Mẹ thao thức canh chừng nhiều cuộc họp quan trọng của cán bộ, chiến sĩ ngay dưới những căn hầm bí mật trong khu vườn nhà. Mẹ luôn để ngọn đèn sáng bên bàn thờ làm ám hiệu an toàn cho cán bộ, du kích đi về hoạt động.

Vườn nhà Mẹ rộng, có 5 căn hầm bí mật. Quanh vườn có nhiều cây xanh và cỏ, nuôi nhiều bò để ngụy trang. Lúc an toàn, mẹ Thứ và các con mở hé cửa hầm để mọi người dễ thở và khi có động thì lại giả vờ trông coi bò để chỉnh sửa, ngụy trang lại miệng hầm. Hàng trăm cán bộ, bộ đội, du kích được gia đình mẹ Thứ chở che, chăm sóc... “Mẹ hiền từ, nhiệt tình, thương anh em bộ đội giải phóng như con của mình. “Mỗi dịp ghé về thăm, Mẹ dặn dò từng li, từng tí: "Sự nghiệp cách mạng còn dài, tụi bây phải cẩn thận", một cựu chiến binh từng được Mẹ chở che cho biết.Thực sự hiếm có bà Mẹ nào gánh chịu nhiều khổ đau như Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Người ta nói nước mắt có thể giúp vơi đi nỗi đau, nên khi Mẹ đã không còn nước mắt để khóc, nỗi đau đó là không thể tả bằng lời nữa rồi… Bao lần tiễn chồng, đưa con đi là ngần ấy lần vời vợi chồng con biền biệt không về. Vẫn biết sự khốc liệt của chiến tranh, ngày đi không biết ngày về, nhưng Mẹ vẫn nuốt nước mắt vào lòng để tiễn con lên đường vào nơi bom đạn. Vì vậy, tôi đã luôn tự hỏi “Nghị lực nào giúp Mẹ vẫn quyết làm và rồi vượt lên nỗi đau mất con và oan khuất?!”. Câu trả lời mà tôi vẫn tự trả lời và vẫn tâm đắc nhất: là tình yêu đất nước, nỗi khát khao độc lập tự do cho dân tộc. Đó cũng là đức hy sinh, là tâm chất lớn lao của những người Mẹ Việt Nam.Nghẹn lòng tri ânBất cứ ai có dịp về vùng đất Quảng Nam, ghé thăm "địa chỉ đỏ" Tượng đài Mẹ Việt Nam anh hùng (khu vực núi Cấm, thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam), được nghe, được kể nhiều câu chuyện về Mẹ Thứ đều nghẹn lòng chực trào nước mắt. Và cũng từng đến thăm nhà Mẹ Thứ để thấy hết sự đơn sơ, quá đỗi yên bình và đặc biệt là hình ảnh trên tường nhà: 12 bằng Tổ quốc ghi công và trên bàn thờ hương khói của 9 người con trai mẹ Thứ.Và ngay trong giây phút đó, thực sự tôi không hiểu sức mạnh nào, nghị lực phi thường nào đã khiến cho một người phụ nữ nhỏ bé như Mẹ Thứ có thể vượt qua hết nỗi đau này đến nỗi đau khác để góp phần làm nên chiến thắng cho dân tộc. Và nay tôi đã có câu trả lời cho riêng mình.Mẹ Thứ đã được trao tặng danh hiệu Mẹ Việt Nam Anh hùng vào năm 1994. Trân trọng với những gì các Bà mẹ Việt Nam anh hùng đã cống hiến cho tổ quốc, cho Nhân dân trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, Đảng và Nhà nước đã thống nhất xây dựng tượng đài Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, lấy nguyên mẫu Mẹ Nguyễn Thị Thứ. Công trình đã được khởi công vào ngày 27/7/2009, tại Núi Cấm (thôn Phú Thạnh, xã Tam Phú, Tam Kỳ, Quảng Nam), nay là địa chỉ đỏ, được nhân dân khắp mọi miền tổ quốc đến viếng.Mẹ đã đoàn tụ với chồng và các con liệt sĩ vào ngày 10/12/2010. Mẹ không còn nữa nhưng tên tuổi của Mẹ vẫn mãi mãi sáng ngời trong lịch sử dân tộc Việt. Những gì mẹ cống hiến cho Tổ quốc mãi là một tấm gương sáng cho các thế hệ noi theo.Chuyện về người mẹ anh hùng

Tôi và anh Vũ Văn Ngữ ở cùng khu 3, phường Cẩm Thượng, TP Hải Dương, tỉnh Hải Dương. Chúng tôi đều là cựu chiến binh, chỉ khác anh Ngữ là phi công, còn tôi là lính bộ binh. Ở cùng quê nên tôi biết nhà anh có hai liệt sĩ-bố anh và người chú ruột. Từ lâu tôi đã muốn viết đôi điều gì đó về gia đình hai liệt sĩ, nhất là bà nội anh-cụ Đinh Thị Lý đã được Nhà nước phong tặng danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Một buổi sáng đầu xuân, bên chén trà nóng thơm phức, tôi gợi ý điều mong muốn của mình và anh Ngữ đã kể.

Theo chính sách thì Vũ Văn Ngữ không phải đi bộ đội vì anh là con duy nhất của liệt sĩ Vũ Như Đính. Học xong cấp 3, Ngữ có thể vào trường đại học nào đó, nhất là Ngữ lại là con liệt sĩ. Vậy mà anh lại quyết tâm nhập ngũ. Anh xin bà, xin mẹ cho anh được vào bộ đội để tham gia kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.

Năm 1965, cụ Đinh Thị Lý nhìn cháu nội khoác ba lô ra đi mà lòng vui buồn lẫn lộn. Cụ vui vì đứa cháu đã biết được lý tưởng của người thanh niên thời chiến, chọn được con đường mà đi, có ý chí như cha, chú, mang trong mình ý chí của người dân nước Việt, giặc đến nhà là phải đánh. Nhưng cụ buồn và lo vì nhà có hai người đàn ông thì cả hai đã hy sinh trong cuộc kháng chiến chống Pháp, bây giờ chỉ còn anh vừa mới lớn lên, là cháu trai duy nhất của cụ...

Mùa xuân năm 1946, người con trai đầu Vũ Như Đính của cụ nhập ngũ, ông đi qua lũy tre làng trong một đêm mưa phùn lất phất. Cụ tiễn con đi để rồi ngồi chờ đợi. Ông được biên chế vào một công binh xưởng đóng tại Đông Triều (Quảng Ninh). Anh bộ đội công binh xưởng ấy đã cùng đồng đội đúc ra vũ khí cho bộ đội đánh giặc. Cuối năm 1946, công binh xưởng của ông phải chuyển lên vùng chiến khu Bắc Kạn, vì ở Đông Triều giặc đã đổ quân chiếm đóng. Ngày 23-8-1947, giặc Pháp cho máy bay thả dù đổ quân càn vào công binh xưởng, chiến sĩ công binh Vũ Như Đính cùng đồng đội chống càn và anh đã anh dũng hy sinh.

Đến người con trai thứ hai của cụ, ông Vũ Như Ngôn cũng tạm biệt gia đình ra đi kháng chiến. Ban đầu, ông Ngôn tham gia hoạt động thanh niên cứu quốc tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương cùng với anh mình từ năm 1945. Khi ông Đính đi vào công binh xưởng thì ông Ngôn cũng thoát ly hoạt động cách mạng bí mật ở Hà Nội vào năm 1950. Đến năm 1951, ông Ngôn bị địch bắt (hiện Bảo tàng Hà Nội vẫn còn lưu ảnh đồng chí Vũ Như Ngôn). Bắt được ông Ngôn, chúng tra tấn hòng tìm được những thông tin bí mật, những cơ sở mà ông nắm được. Nhưng chúng không thể lấy được một thông tin nào từ người đảng viên trung kiên Vũ Như Ngôn nên đưa ông ra bắn tại khu Tương Mai, Hà Nội.

Hai con trai đi kháng chiến, cụ Đinh Thị Lý một mình xoay xở để nuôi mấy người con gái. Cụ vừa làm vừa nghe ngóng tin con, tin chồng. Cụ Vũ Như Đọc-chồng cụ Lý tham gia kháng chiến từ năm 1950. Những năm ấy sao mà gian truân với cụ Lý. Rồi tin chồng bị bắt, tim cụ như thắt lại. Cụ Lý không thể ngồi yên, cụ đi khắp các trại giam ở Hải Dương để tìm chồng mà không thấy. Sau những năm dài bị địch giam cầm, đến năm 1953, cụ Đọc mới được địch thả về sau khi đã tra tấn đến liệt chân mà không lấy được tin tức gì ở cụ. Cụ Lý xót xa ôm lấy người chồng bị liệt chân đang đau đớn, ôm chồng mà lòng lại nghĩ đến hai con đang ở chiến trường. Thời gian này, gia đình cụ nằm trong vùng địch kiểm soát nên chịu nhiều sự o ép của chúng. Bọn địch thường xuyên đến tra hỏi về hai người con đi kháng chiến của cụ; đêm chúng rình mò xem các anh có về không, xem có ai đến liên lạc với cụ ông không... Ngày tháng ấy với cụ Lý sao mà dài đằng đẵng, nhưng cụ vẫn tin vào ngày kháng chiến thành công, hai con sẽ trở về.

Năm 1954, miền Bắc được giải phóng, cụ Lý ngóng mãi, chờ đợi mãi mà vẫn không thấy hai người con trở về. Rồi một ngày, những người đồng đội của ông Đính bước vào nhà, đi cùng với họ là đại diện chính quyền địa phương. Họ đến báo tin với cụ rằng con cụ không về sau ngày Hải Dương giải phóng. Cụ Lý cầm tờ giấy báo tử ghi liệt sĩ Vũ Như Đính mà lòng quặn thắt. Cụ Lý nấc lên rồi ngước đôi mắt nhìn trời. Cụ hy vọng người con thứ hai của mình sẽ về.

Rồi một ngày đoàn người lại đến. Từ ngày cụ nhận giấy báo tử của người con cả, cứ mỗi khi có đoàn người đến nhà là cụ lại giật mình, lại lo, nỗi lo của người mẹ ngóng con, chờ đợi trong thấp thỏm, chờ đợi với một chút hy vọng mong manh. Nhưng niềm hy vọng ấy của cụ cũng bị vụt tắt, khi cụ nhận tờ giấy báo tử nữa: Liệt sĩ Vũ Như Ngôn.

Cụ Lý ngồi chết lặng, nước mắt không còn để mà rơi, chỉ có tiếng nấc cứ dâng đầy lên ngực, lên trái tim cụ. Hòa bình lập lại, những người đi kháng chiến trở về, nhưng nhà cụ thì các con không trở về với cụ... Bà Cao Thị Nhị, vợ của liệt sĩ Vũ Như Đính, người đảng viên, công nhân Nhà máy In Hải Dương ngồi lặng thầm. Chồng bà đã hy sinh, bao năm bà ở vậy nuôi con. Giá ông để lại cho bà vài đứa thì Vũ Văn Ngữ nhập ngũ bà còn đứa khác bên cạnh, đằng này chỉ có mình anh, anh đi ở nhà chỉ còn hai người đàn bà, một người là mẹ liệt sĩ, một người là vợ liệt sĩ, ngôi nhà chẳng có tiếng đàn ông, chẳng có tiếng rít của chiếc điếu cày mỗi buổi sáng hai mẹ con thức dậy...

Vũ Văn Ngữ vào bộ đội. Anh cao khỏe, đã học hết cấp 3, lại là con liệt sĩ nên được biên chế vào Quân chủng Phòng không-Không quân. Sau thời gian học tập ở Liên Xô (trước đây), anh Ngữ về nước tham gia vào những trận đánh trên không. Mỗi lần bay trên bầu trời Tổ quốc, anh lại thấy lòng mình xốn xang, lại nghĩ tới bố, tới chú đã hy sinh vì bầu trời Tổ quốc, vì đất nước. Ngữ lại nghĩ tới bà, tới mẹ, bao năm vò võ đợi chờ. Chính truyền thống cách mạng của gia đình, của ông cha đã giúp Vũ Văn Ngữ vượt qua được khó khăn gian khổ, bao thử thách ác liệt trong cuộc chiến đấu với quân thù. Và trong một trận đánh trên bầu trời Thanh Hóa, anh Ngữ đã bắn rơi một máy bay trinh sát của địch. Với thành tích ấy, anh được tặng thưởng Huy hiệu Bác Hồ. Đó là niềm vinh dự lớn lao đối với quân nhân Vũ Văn Ngữ.

Đất nước thống nhất, Vũ Văn Ngữ trở về nhào vào lòng bà, lòng mẹ, cả nhà hòa chung niềm vui chiến thắng. Trong khoảnh khắc thiêng liêng ấy, anh Ngữ vẫn nhớ như in hình ảnh, cảm xúc của bà nội. Hồi đó, cụ thường nhắc lại với anh biết bao kỷ niệm về chồng, về hai người con của mình đã hy sinh trong cuộc kháng chiến trường kỳ và ngày anh nhập ngũ. Những năm Ngữ đi chiến đấu, cụ Lý ở nhà không khỏi lo lắng. Cụ giật mình mỗi khi có tiếng phản lực gầm rú trên đầu, những lúc ấy cụ lại nguyện cầu. Cụ mong cho Ngữ bình an trở về. Cuối cùng thì Vũ Văn Ngữ đã về, anh không còn phải bay trong bom đạn, nếu có bay anh sẽ bay trên bầu trời trong xanh của Tổ quốc.

Đền đáp lại công ơn của gia đình cụ Đinh Thị Lý, Nhà nước đã phong tặng cụ Lý danh hiệu "Bà mẹ Việt Nam anh hùng". Chính quyền và nhân dân phường Cẩm Thượng đã xây dựng ngôi nhà tình nghĩa trao tặng gia đình cụ. Đó cũng là ngôi nhà mà cụ Lý ở đến hết những năm tháng cuối cuộc đời. Bây giờ trong ngôi nhà ấy, cựu chiến binh Vũ Văn Ngữ bày bát hương thờ cúng ông nội, bố, chú và bà nội anh. Mỗi lần thắp hương, đứng trước ban thờ gia tiên, cựu chiến binh Vũ Văn Ngữ lại rưng rưng xúc động, nhưng trong ánh mắt của anh vẫn ánh lên niềm tự hào về một gia đình đã hết lòng cống hiến cho cách mạng, vì hòa bình của dân tộc

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn