Bài viết

Những chuyện chưa biết về giáo sư viện sĩ do Bác Hồ đặt tên

Hải Phòng14/01/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ năm 1936, sinh viên Phạm Quang Lễ đã được nghe biết đến tên tuổi lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tháng 5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng phái đoàn đàm phán do Thủ tướng Phạm Văn Đồng làm trưởng đoàn qua Pháp thương thuyết với Bộ trưởng Thuộc địa Marius Moute. Phạm Quang Lễ nhờ ông Hoàng Xuân Mạn (em của GS Hoàng Xuân Hãn) giới thiệu với ông Phạm Văn Đồng trình bày ý nguyện hồi hương cứu quốc. Sau đó Lễ cùng các Việt kiều yêu nước hội kiến Hồ Chủ tịch.

Bác hỏi: “Nguyện vọng của chú lúc này là gì?”, Lễ trả lời rất nhanh: “Kính thưa Cụ, nguyện vọng cao nhất của tôi là được trở về Tổ quốc cống hiến hết năng lực và tinh thần”. Bác nói rõ tình hình trong nước rất khó khăn và hỏi có chịu khổ nổi không, anh trả lời “Tôi chịu nổi”. Bác lại nói ở bên nhà không có kỹ sư và công nhân vũ khí, máy móc thiếu, liệu có làm được không? anh đáp chắc như đinh đóng cột “Tôi làm được”.

Và anh quyết định từ bỏ chức vụ kỹ sư trưởng ở Hãng nghiên cứu chế tạo máy bay Concord với đồng lương tương đương 22 lạng vàng một tháng để theo Bác Hồ về nước. Cùng về còn có hai trí thức trẻ là bác sĩ Trần Hữu Tước và Võ Quý Huân. Anh được kề cận Bác Hồ 102 ngày: 62 ngày tại Paris và 40 ngày lênh đênh trên biển.

Ngày 20/10/1946, chiến hạm Dumont de Urville đưa Hồ Chủ tịch và đoàn tuỳ tùng cập bến Hải Phòng. Về nước được 7 ngày, Phạm Quang Lễ được Bác trực tiếp giao nhiệm vụ lên Thái Nguyên nghiên cứu chế tạo súng chống tăng dựa theo mẫu bazôca của Mỹ, với hai viên đạn do Thứ trưởng Bộ Quốc phòng là GS Tạ Quang Bửu cung cấp. Lúc này về vũ khí, ngành quân giới của ta chưa biết gì nhiều. Đồng chí Võ Nguyên Giáp nói: “Nghe tin anh về, anh em bên này mừng lắm!”. Con át chủ bài về vũ khí của Pháp là máy bay và xe tăng, mà chúng biết rất rõ rằng chúng ta chưa hề có súng chống tăng.

Ngày 5/12/1946, Bác Hồ giao cho Phạm Quang Lễ làm cục trưởng Cục Quân giới, đơn vị trực tiếp sản xuất súng đạn phục vụ chiến đấu. Bác nói: “Việc của chú làm đây là việc đại nghĩa, vì thế từ nay Bác đặt tên cho chú là Trần Đại Nghĩa. Dùng bí danh này để giữ bí mật cho chú và để bảo vệ gia đình, bà con chú còn ở trong Nam”.

Bác giải thích ý nghĩa cái tên: “Một là họ Trần, là họ của danh tướng Trần Hưng Đạo. Hai là, Đại Nghĩa là nghĩa lớn để chú nhớ đến nhiệm vụ của mình với nhân dân, với đất nuớc. Đại Nghĩa còn là chữ của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo. Chú có ưng bí danh đó không?”. Từ đó cái tên Trần Đại Nghĩa đã gắn với ông trọn đời.

Cùng các cộng sự, Trần Đại Nghĩa bắt tay vào công việc ngay từ tháng 11/1946. Ông say mê làm việc đến quên ăn, quên ngủ. Nhiều đêm ông chỉ mong cho trời chóng sáng để làm việc, nghiên cứu, thử nghiệm. Song công việc không hề dễ dàng. Ông chỉ đạo xưởng Giang Tiên sản xuất thành công một khẩu súng Bazôca 60mm và 50 quả đạn. Khi bắn thử, đạn nổ nhưng chưa xuyên.

Đạn Bazôca của Mỹ được nhồi bằng thuốc phóng, còn ta chỉ có loại thuốc súng lấy được từ bom đạn của Pháp. Tất cả đều phải tính toán lại từ đầu và phải hiểu được những nguyên lý cơ bản về thuốc phóng, thuốc nổ. Những kiến thức sách vở 11 năm thu lượm xứ người bắt đầu phát huy tác dụng, phải làm lại từ đầu. Đáng tiếc là gần 1 tấn sách tài liệu về vũ khí của Trần Đại Nghĩa chuyển về nước bị thất lạc.

Bằng trí nhớ của mình, ông cố gắng moi tất cả những kiến thức về vũ khí để kết nối, tính toán lại. Hình ảnh người kỹ sư miệt mài tính toán tốc độ cháy, đốt thử các loại thuốc súng, ngày đêm với cây thước tính trong tay... đã trở nên quá đỗi quen thuộc với các cán bộ chiến khu. Chỉ một sai sót nhỏ sẽ phải trả giá bằng xương thịt của chiến sĩ nơi trận mạc, vì thế trách nhiệm càng đè nặng lên vai anh.

Những cán bộ chiến khu sau này kể lại, họ rất... sợ khi đi qua phòng Trần Đại Nghĩa vì đó là nơi rất nguy hiểm. Trong căn phòng chứa đầy thuốc nổ đủ loại, chỗ nào cũng thấy ngổn ngang bao tải thuốc nổ, trên mặt bàn làm việc la liệt các loại đạn Bazôca, quả đang nghiên cứu, quả đã nhồi xong, quả thì chưa nhồi, rồi thì hạt nổ... Kỹ sư lại có thói quen... hút thuốc mỗi lúc tư duy. Rõ ràng tai hoạ luôn rình rập. Cuối cùng, điều kì diệu đã đến. Cuối tháng 2/1947, cuộc thử nghiệm Bazôca thành công. Mức đâm xuyên của đạn vừa chế tạo đạt độ sâu 75cm trên tường thành xây gạch tương đương với sức nổ xuyên của đạn Bazôca do Mỹ chế tạo.

Đêm 2/3/1947, Chánh Văn phòng Bộ Quốc phòng Phan Mỹ giao nhiệm vụ cho Cục Quân giới sản xuất cấp tốc đạn Bazôca để cản phá cuộc hành quân của Pháp. Chúng ta đã vây Pháp hơn 2 tháng ở Hà Nội và giờ chúng đang tìm cách thoát ra. Ông Phan Mỹ yêu cầu: “Các đồng chí đã bắn thử Bazôca thành công, tuy chưa chắc chắn lắm nhưng tình hình lúc này rất cấp bách.

Trần Đại Nghĩa (trái) đưa tướng Giáp thăm kho vũ khí

Trần Đại Nghĩa (trái) đưa tướng Giáp thăm kho vũ khí


Sáng mai quân Pháp có khả năng chọc thủng mặt trận Cầu Mới - Hà Đông. Đề nghị anh Nghĩa cho nhồi gấp đạn Bazôca ngay trong đêm để kịp mang đến cho đồng chí Vương Thừa Vũ trong ngày mai. Anh Vũ đang bảo vệ Bác Hồ và Chính phủ ở Quốc Oai, Hà Tây”.Tất cả lực lượng của Cục đều được huy động nhồi thuốc, lắp đạn. Cật lực suốt đêm, đến 3 giờ sáng thì tổ nghiên cứu của Trần Đại Nghĩa cùng anh em trong cơ quan Cục Quân giới nhồi lắp được 5 quả đạn mang mã hiệu B60, kèm 1 quả đạn khói, 1 súng Mỹ cải tiến đưa ra mặt trận.

Sáng 3/3/1947, máy bay Pháp bắt đầu quần đảo nhằm yểm trợ cho xe tăng, cơ giới của địch đánh chiếm thị xã Hà Đông. Quân ta bố trí dọc đê. Tại chùa Trầm, quân Pháp sử dụng 4 chiếc xe tăng mở đường, bên ta chỉ có đúng 5 viên đạn để bắn. Viên đầu tiên bắn ra, chiếc xe tăng đi đầu bốc cháy ngùn ngụt, chiếc thứ 2 cũng bị đạn bắn hỏng.

Cả đoàn xe địch khựng lại, hỗn loạn rồi thối lui. Sự xuất hiện của một loại vũ khí mới đã khiến chúng bất ngờ và hoang mang. Ngày 3/3/1947 đã trở thành một mốc son của ngành Quân giới Việt Nam trong việc chế tạo khí tài, súng đạn. Chiến công này góp phần bẻ gẫy cuộc tấn công của địch ra vùng Chương Mỹ, Quốc Oai.

Sau việc sản xuất súng đạn Bazôca thành công, cục Quân giới chuyển lên Việt Bắc và tiếp tục sản xuất hàng loại súng này. Vũ khí của ta lúc này rất hiếm, riêng Bazôca là loại vũ khí quí. Bazôca xuất hiện lần đầu tiên trên thể giới vào Thế chiến 2, năm 1943, đã trở thành vũ khí đáng sợ đối với nhiều đơn vị quân đội. Tuy nhiên việc một đất nước vừa thoát khỏi cảnh thuộc địa và nửa phong kiến như nước ta đã chế tạo thành công loại vũ khí hiện đại này, thật như huyền thoại và là điều không ngờ của địch.

Bộ đội sau khi được trang bị nhiều súng Bazôca đa có nhiều sáng tạo trong chiến đấu. Nếu trước kia Bazôca chỉ nhắm vào các loại xe tăng, thiết giáp thì sau này, bộ đội còn sử dụng để bắn ôtô, lô cốt, dùng thay thế lựu đạn ở những nơi đối phương tập trung đông. Đạn Bazôca có tầm xa tới 600m, phạm vi sát thương tới 50m, nhưng không làm hỏng vũ khí đối phương. Vì vậy chúng ta đã tịch thu được nhiều súng đạn của giặc sau mỗi trận thắng. Từ khi đưa vào sử dụng, Bazôca đã gây cho địch nhiều tổn thất rất lớn.

Từ các mặt trận, thư của chiến sĩ gửi về ngành quân giới tới tấp. Những người lính trực tiếp chiến đấu đã có nhiều phản hồi giúp kỹ sư hoàn thiện hơn loại vũ khí này. Súng Bazôca đã trở thành nỗi kinh hoàng của kẻ địch, nhưng vẫn còn những hạn chế, chẳng hạn như tầm bắn chưa tốt, nếu bắn cách xa 100m thì sức phá sẽ kém đi...

Chiến sự ngày ác liệt, ngoài Bazôca chiến trường cần phải có thêm vũ khí hạng nặng. Trần Đại Nghĩa lại đêm ngày nghiên cứu. Tiếp đó là súng SKZ (súng không giật) ra đời. Loại này mạnh hơn Bazôca, đó là loại súng rất nhẹ (chỉ 20kg), đầu đạn lõm cỡ 160mm, dùng để bắn vào những pháo đài kiên cố của địch, đầu đạn xuyên thủng các bức tường lô cốt bêtông dày 600-1.000mm..

Chỉ sau SKZ của Mỹ mấy năm, SKZ Việt Nam xuất hiện lần đầu trong trận Phố Lu, đánh phá tan tành các lô cốt địch.

Sau này, trong cuốn “Chiến tranh Đông Dương” xuất bản tại Paris năm 1963, ký giả Lucien Bodart viết: “Cái thứ gây khó khăn cho chúng tôi, cái thứ xuyên thủng bêtông dày 60cm là những quả đạn SKZ. Chỉ cần vài quả là đã tiêu diệt được lôcốt của chúng tôi”. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Cục Quân giới chuyển vào chiến trường 10 khẩu SKZ và 100 quả đạn. Số súng đạn này đã góp phần giúp chiến sĩ hạ gục nhiều đồn bốt địch.

Năm 1948, Trần Đại Nghĩa được phong quân hàm Thiếu tướng, trở thành một trong 10 vị tướng đầu tiên của quân đội nhân dân Việt Nam. Đồng chí Võ Nguyên Giáp là đại tướng, Nguyễn Bình là trung tướng, còn Trần Đại Nghĩa cùng Nguyễn Sơn, Văn Tiến Dũng, Trần Tử Bình, Lê Thiết Hùng, Chu Văn Tấn, Hoàng Văn Thái, Hoàng Sâm đều là thiếu tướng. Khi ấy Trần Đại Nghĩa mới 35 tuổi.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn