Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

NHỮNG CHUYẾN DẦU RA BẾN SÔNG.

Sau khi tuyến vận chuyển đường biển bị ngừng, hậu cần chuyển sang vận chuyển bằng thuyền máy theo sông Đào từ sông Bến Hải vào gần sông Thạch Hãn. Tác giả cùng đồng đội dùng xe chở hàng, đặc biệt là xăng dầu, ra bến sông để giao cho đội vận tải. Các chuyến đi rất nguy hiểm vì máy bay địch thả pháo sáng và ném bom. Có lần xe chở dầu bị bom đánh, rơi xuống hố bom, hoặc gặp hào dân làng đào chặn đường, phải rất vất vả mới thoát. Khi được lệnh vận chuyển 30 tấn dầu, tác giả chỉ cho chuyển vào phía

Lai Châu13/03/2026Ban Biên tập tổng hợp2 lượt xem0 lượt chia sẻ

Sau khi việc vận chuyển bằng đường biển từ Vĩnh Thái vào Gia Đẳng không thực hiện được nữa, Cụm 4 thuộc Cục Hậu cần mặt trận tổ chức vận chuyển bằng đường sông từ bò Bắc sông Bến Hải vào đến gần sông Thạch Hãn. Đường vận chuyển là con sông Đào nối liền sông Bến Hải với sông Thạch Hãn. Phương tiện vận chuyển vẫn là thuyền máy. Nhiệm vụ của chúng tôi lúc này là: đêm đêm áp tải hàng từ kho trung đoàn ra đến bến sông, nơi tập kết các thuyền máy của Cụm 4. Bến sông này nằm khoảng giữa Cửa Tùng và cầu Hiền Lương.

Phụ trách bến sông là một sĩ quan của Cụm 4. Sau khi chúng tôi giao hàng tại bến sông, thuyền máy của Cụm 4 sẽ vận chuyển vào phía Nam nhưng chúng tôi phải cử người đi áp tải. Trong số các hàng hóa phải vận chuyển thì mặt hàng đáng ngại nhất là xăng dầu. Xăng dầu được đựng trong các thùng phuy 200 lít, sau khi được chúng tôi vận chuyển bằng ô tô sẽ được vần xuống thuyền. Khi vần các thùng phuy dầu xuống thuyền phải thật cẩn thận để các thùng phuy không va đập mạnh vào mạn thuyền. Những cú va đập này có thể làm vỡ thuyền. Ngoài ra khi vận chuyển bằng đường sông phải tăng bo hàng hoá qua một khúc sông bị cạn. Các thùng dầu lại phải lăn từ thuyền lên bờ rồi vần qua khúc sông cạn hơn l km. Hết khúc sông cạn, các thùng dầu lại được vần xuống thuyền máy. Đoạn sông cạn này được gọi là bến Lại An. Đây là đoạn bị địch thường xuyên thả pháo sáng và đánh phá nhằm ngăn chặn đường vận chuyển của ta.

Từ cuối tháng 6 đến hết tháng 7, đêm đêm cứ 7 giờ tối, tôi lại dẫn 2 chiếc xe Zil-157 chở hàng hoá ra bến sông để giao hàng cho đội vận tải bằng thuyền máy của Cụm 4. Cùng đi áp tải với tôi còn có đồng chí Chỉnh, binh nhất, chiến sĩ bảo quản kho, người đã khởi xướng việc nhặt bom bi ở kho đạn và nhờ đó đã giải quyết được vụ kho đạn bị rải bom bi mấy tháng trước đây. Sau khi giao hàng cho đội vận tải của Cụm 4, đồng chí Chỉnh có trách nhiệm áp tải hàng để giao cho bộ phận hậu cần của trung đoàn ở phía nam sông Bến Hải. Thường xuyên lái xe chở hàng ra bến sông là đồng chí Mạnh, lái xe của đại đội vận tải. Đại đội vận tải lúc đó do đồng chí Tĩnh, Trung úy chỉ huy đóng ở Rú Lĩnh. Những chuyến chở hàng ra bến sông là những chuyến đi nguy hiểm. Giờ chúng tôi xuất phát cũng là lúc địch bắt đầu thả pháo sáng trên các con đường và dọc sông Bến Hải để quan sát các hoạt động của ta. Máy bay trinh sát của địch hoạt động suốt đêm. Pháo sáng lơ lửng trên bầu trời từ 6 giờ chiều đến 6 giờ sáng hôm sau. Khi phát hiện thấy ô tô chạy trên đường hoặc thuyền máy chạy trên sông, máy bay trinh sát sẽ bắn pháo khói chỉ điểm và lập tức có máy bay cường kích đến bắn phá để tiêu diệt mục tiêu.

Chuyến đi đầu tiên do chưa có kinh nghiệm, chúng tôi đã gặp phải một sự cố. Sự thể là trên con đường từ kho trung đoàn ra bến sông, chúng tôi phải đi qua một cái dốc. Dốc không cao lắm, chỉ khoảng 10 độ. Xe chúng tôi vẫn bật đèn gầm và đi trong đêm với tốc độ chậm. Khi xe leo lên dốc, mới được một đoạn ngắn thì bỗng nhiên pháo khói của địch đã nổ trước đầu xe. Máy bay cường kích xuất hiện và ném hai quả bom. Bom không trúng đích. Đồng chí Mạnh tắt đèn gầm, tăng ga, nhanh chóng vượt qua dốc. Chạy trong đêm với tốc độ cao lại không có đèn, vừa xuống khỏi dốc, xe chúng tôi lao thắng xuống hố bom cạnh đường và dừng lại. Đầu xe chúi xuống đáy hố bom. Đuôi xe chổng lên miệng hố bom. Xe nằm trên miệng phễu hố bom, nghiêng so với phương thẳng đứng một góc gần 40 độ. Ngồi trên ca bin tôi có cảm giác xe sắp lật đến nơi. Trên xe toàn thùng dầu diezel, nếu xe lật lúc này, thì việc khắc phục sẽ rất khó khăn, chưa nói tới khả năng có thể cháy nổ. Tôi thận trọng mở cửa ca bin và bước xuống miệng hố bom, có cảm giác là nêu mình hành động mạnh, chiếc xe có thê bị mất cân bằng và bị lật ngay.

Khi đã bước lên miệng hố bom rồi, nhìn chiếc xe đang đứng nghiêng phía dưới, tôi cũng lấy làm lạ tại sao như thế mà chiếc xe vẫn không bị lật. Bây giờ là lúc phải nghĩ cách kéo chiếc xe lên khỏi hố bom. Vừa lúc chiếc xe thứ hai đến nơi, chúng tôi quyết định cho xe quay đầu, móc cáp để kéo xe đồng chí Mạnh lên. Điều chúng tôi lo nhất lúc này là khi xe đồng chí Mạnh chuyển động, bánh xe có thể bị lún và xe có thể bị lật. Nhưng trong hoàn cảnh này, không có nhiều thời gian suy nghĩ và cũng không có phương án nào tốt hơn. Chúng tôi quyết định cứ thế mà làm, đồng chí Mạnh lại leo lên ca bin, cài số lùi, hai xe cùng nổ máy. Chúng tôi nín thở theo dõi. Xe đồng chí Mạnh từ từ chuyển động trong tư thế nằm nghiêng một góc 40 độ và cuối cùng nó cũng bò lên khỏi hố bom. Chúng tôi thở phào nhẹ nhõm. Thoát khỏi hố bom, đêm hôm đó hai chiếc xe của chúng tôi chở dầu ra bên sông an toàn và giao cho đội vận tải thuyền máy của Cụm 4. Sau khi nhận hàng, đồng chí chỉ huy bến sông đề nghị chúng tôi nán lại đến 12 giờ đêm hãy trở về vì thời điểm đó sẽ có thuyền máy chở thương binh từ phía nam ra và chúng tôi sẽ giúp Cụm 4 chở thương binh về các đội điều trị phía sau. Để thắt chặt mối quan hệ giữa hai đơn vị, tôi đã đồng ý. Tuy nhiên đêm hôm đó, sau khi thuyền máy từ phía nam ra lại không có thương binh. Mặc dù vậy, việc chúng tôi nhận lời nán lại bến sông đến 12 giờ đêm, một địa điểm có thế bị địch phát hiện và oanh tạc bất cứ lúc nào đã làm cho đồng chí chỉ huy đội vận tải rất có cảm tình với chúng tôi.

Sau chuyến đi này, về nhà suy nghĩ: Tại sao khi xe vừa lên dốc lại bị máy bay địch phát hiện được ngay? Và chúng tôi cũng nhanh chóng có câu trả lời, đó là: Khi lên dốc, mặc dù xe chỉ bật đèn gầm, nhưng ánh sáng sẽ chiếu từ dưới mặt đất lên không với một góc bằng độ dốc của con đường và trong đêm, máy bay sẽ dễ dàng phát hiện được. Rút kinh nghiệm, những lần sau khi chở hàng ra bến sông, đến gần dốc là chúng tôi tắt đèn gầm, vì thế chúng tôi đã đi trót lọt được một số chuyến. Nhưng trên con đường này, không chỉ có xe của chúng tôi mà còn có xe của nhiều đơn vị khác. Những chiếc xe đến đây khi lên dốc còn để đèn gầm đều bị máy bay địch phát hiện và bị đánh. Lâu dần cái dốc trở thành một trọng điểm để máy bay địch đánh phá. Tuy nhiên bom đánh trúng xe thì ít mà bom lạc vào một cái làng gần đó thì nhiều. Có lẽ vì thế mà dân làng đã đào một cái hào cắt ngang qua đường trước dốc nhằm ngăn không cho xe lên dốc đê địch phát hiện ném bom và rồi bom lại lạc vào làng gây thương vong cho họ. Cái hào đó đã để lại cho tôi thêm một kỷ niệm trong một chuyên chở dầu ra bến sông. Lần này, cũng như mọi lần, chúng tôi lên xe chở dầu ra bến, tôi và đồng chí Mạnh đi xe trước, xe sau có đồng chí Chỉnh. Khi đến gần dốc, tôi cho xe tắt đèn gầm, tôi leo lên thùng xe để quan sát máy bay. Trong quá trình vận chuyến, những thùng dầu cứ dịch chuyên từ phía sau ra phía trước. Vì thế trên thùng xe phía gần ca bin, các thùng dầu đã lèn chặt, không còn chỗ đứng. Tôi phải đứng ở phía sau thùng xe. Vì không bật đèn gầm, con đường chỉ hiện ra mờ mờ trước mắt. Xe bắt đầu lên dốc với tốc độ trung bình. Trên thùng xe, tôi căng mắt nhìn lên bầu trời và cố gắng lắng nghe tiếng động cơ máy bay. Bỗng nhiên: Ầm! Tôi nghe thấy một tiếng động mạnh. Xe như đâm phải một vật cản và đứng khựng lại. Đầu xe chúi xuống phía trước, tất cả các thùng dầu trên thùng xe, theo quán tính dồn về phía ca bin. Tôi đang đứng phía sau thùng xe bay người nằm gọn trên các thùng dầu, người đau điếng. Một phút bàng hoàng đã qua, tôi nhận ra là hai bánh trước của chiếc xe Zil-57, đã nằm gọn dưới hào. May mà tôi đứng phía sau xe, chứ đứng phía dầu thùng xe thì hoặc là bay ra phía trước xe, nếu không cũng bị các thùng dầu phía sau ép lên chết bẹp. Đêm hôm đó, trên đường ra bến chúng tôi lại có thêm việc để làm. Bốn anh em hì hục, đào đào, bới bới đến hơn 1 giờ chúng tôi mới cho được hai xe dầu vượt qua cái hào đó.

Khoảng giữa tháng 7, tôi nhận được lệnh vận chuyển 30 tấn dầu diezel giao cho đội vận tải bằng thuyền máy của Cụm 4, Cục Hậu cần Mặt trận B5 để chuyển vào phía nam. Đợt vận chuyển dầu này nhằm phục vụ cho kế hoạch đánh địch phản kích chiếm lại thị xã Quảng Trị. Tuy nhiên, trước đó vài ngày, vào một buổi tối tại Sở chỉ huy hậu phương thông qua buổi làm việc của đồng chí Quỳnh với Sở chỉ huy cơ bản của trung đoàn ở phía nam, tôi được biết số lượng xe còn hoạt động được của Tiểu đoàn 66 ở phía nam không đầy 10 chiếc. Điều đó không có gì lạ. Ở cánh đông mặt trận Quảng Trị, xe tăng và xe thiết giáp của ta sau khi vượt qua sông Bến Hải, phần lớn được giấu trong các làng mạc thuộc hai huyện Gio Linh và Triệu Hải. Đó là các huyện đồng bằng ven biển. Dân chúng trong các làng mạc ở hai huyện này hầu hết đã đi tản cư. Một phần chạy ra Bắc, vượt sông Bến Hải sang Vĩnh Linh. Phần còn lại chạy về phía nam vào Huế. Gio Linh và Triệu Hải trở thành bãi chiến trường. Bom đạn địch giội xuống suốt ngày đêm. B-52 ném bom rải thảm, chà đi xát lại. Nơi nào còn một bụi cây thì B-52 còn tiếp tục rải thảm.

Dưới những trận bom hủy diệt đó, xe tăng và xe thiết giáp của ta, mỗi ngày lại có một vài chiếc trúng mảnh bom, không hỏng chỗ này cũng hỏng chỗ khác. Có thể việc báo cáo tổn thất, hư hỏng của xe tăng lên cấp trên chưa kịp thời vì thế mới có kế hoạch vận chuyển 30 tấn dầu cho kế hoạch đánh địch chiếm lại thị xã Quảng Trị. Kế hoạch bổ sung dầu này không phải do yêu cầu từ sở chỉ huy ở phía nam của trung đoàn, mà từ sở chỉ huy mặt trận đưa xuống. Có thể các phái viên của Bộ Tư lệnh Thiết giáp tại mặt trận một phần chưa có báo cáo hư hỏng, tổn thất, một phần do còn tính đến các kẽ hoạch tiếp theo.

Vận chuyển 30 tấn dầu bổ sung, trong khi tiểu đoàn chỉ còn chưa đầy 10 chiếc xe hoạt động thì là quá nhiều. Bởi vì trước đó chúng tôi đã vận chuyển rất nhiều chuyến dầu vào phía nam. Sau khi nhận nhiệm vụ này, chúng tôi vẫn thực hiện vận chuyển 30 tấn dầu ra bến sông. Khi giao hàng tại bến, tôi nói với đồng chí sĩ quan chỉ huy đội vận tải thuyền máy của Cụm 4 là: tôi giao cho anh 30 tấn dầu diezel. Nhưng anh chỉ vận chuyển vào phía nam 2 tấn thôi. Số còn lại, anh cứ giữ tại đây cho tôi, khi nào cần tôi sẽ cho xe đến lấy.

Đang nhận kế hoạch phải vận chuyển 30 tấn dầu, bây giờ nghe tôi nói chỉ phải vận chuyển 2 tấn còn lại 28 tấn để tại bến, đồng chí chỉ huy đội vận tải rất phấn khởi vì họ rất ngại phải vần các thùng dầu xuống thuyền máy. Tuy nhiên do trách nhiệm, đồng chí cũng hỏi tôi là vì sao kế hoạch là 30 tấn mà anh chỉ cho vận chuyển có 2 tấn. Tôi trả lời là: anh cứ yên trí, nếu thiếu dầu các đơn vị sẽ điện ngay ra cho tôi và chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện. Thực ra lúc đó tôi nghĩ rằng với hành trình từ sông Bến Hải vào sông Thạch Hãn và mức độ hoạt động như thời gian qua, Tiểu đoàn 66 chưa thể tiêu thụ hết số dầu mà chúng tôi đã đưa vào. Giờ đây chỉ còn 10 xe hoạt động thì bổ sung cho mỗi xe 200 lít là đủ.

Đúng như dự tính của tôi, sau khi kết thúc kế hoạch vận chuyến, mặc dù chỉ đưa vào phía nam có 2 tấn dầu diezel, đồng chí Quỳnh điện vào sở chỉ huy phía nam hỏi đã nhận đủ dầu chưa thì Sở chỉ huy phía nam trả lòi: Đã nhận đủ dầu và như vậy là chúng tôi còn 28 tấn dầu dự trữ tại bến sông của Cụm 4. Sau này khi kho xăng Khe Lương của mặt trận bị đánh cháy, số dầu này đã trở thành một phần dự trữ rất quan trọng của trung đoàn.

Những chuyên chở dầu từ bờ Bắc sông Bến Hải rồi áp tải vào phía nam là một hành trình rất gian khổ và nguy hiểm, đặc biệt là đoạn phải vần các thùng dầu trên khúc sông cạn tại bến Lại An, dài hơn l km dưới pháo sáng và đạn bom của địch. Tuy nhiên đối với phần công việc này tôi lại không phải lo lắng lắm. Có một người bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng xung phong đi làm công việc đó. Đó là đồng chí Chỉnh. Ngoài cái lý do là nhiệm vụ, là trách nhiệm còn có một lý do nữa mà mãi sau này tôi mới biết, có một cô thanh niên xung phong, lúc nào cũng chờ đợi chàng binh nhất của Trung đoàn 202 và nơi hẹn hò của họ là bến Lại An.

Thế mới biết là không phải chỉ có rạp chiếu phim, không phải chỉ có công viên, mà điểm hẹn của tình yêu còn có thể ở những nơi đầy hiểm nguy trong chiến tranh. Phải chăng tình yêu đã vượt trên cái chết?

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn