NHỮNG CON NGƯỜI GÓP CÔNG LÀM NÊN ĐIỆN BIÊN PHỦ 1954
Đặng Kim Giang xuất hiện trong hồi ký của Đại tướng Võ Nguyên Giáp từ “Đường tới Điện Biên Phủ” cho đến “Điểm Biên Phủ điểm hẹn lịch sử” là một bộ tướng luôn sát cánh cùng Tổng Tư lệnh trong các chiến dịch: Thượng Lào, Biên Giới, Hòa Bình, Tây Bắc, Hà Nam Ninh…

Sinh năm 1910 tại xã Minh Hưng, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình, Đặng Văn Rao - tên khi sinh của Thiếu tướng Đặng Kim Giang, tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội từ năm 1928. Năm 1930, ông trở thành Đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương.
Là Chủ nhiệm Hậu cần, một trong bốn thành viên của Bộ chỉ huy và Đảng ủy Mặt trận, ông phải chịu trách nhiệm đảm bảo quân lương, súng đạn cho chiến dịch Điện Biên Phủ.
Việc đảm bảo hậu cần để bộ đội “ăn no đánh thắng” là nhiệm vụ quan trọng trên vai Thiếu tướng Đặng Kim Giang.
Phương châm chiến dịch thay đổi, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái, Tham mưu trưởng, phải thay đổi toàn bộ kế hoạch tác chiến. Tất cả những sự chuẩn bị từ trước cho đến ngày 26/1/1954 đều trở lại vạch xuất phát.
Khi đó, trách nhiệm nặng nề đặt lên vai Chủ nhiệm Hậu cần chiến dịch Đặng Kim Giang. Ông phải chỉ đạo chuẩn bị hậu cần để nuôi khoảng 4-5 vạn quân và hàng vạn dân công thêm vài tháng.
Dự kiến ban đầu công tác chuẩn bị hậu cần chỉ từ cuối tháng Một đến đầu tháng Hai nhưng trên thực tế, sau khi thay đổi phương châm tác chiến, hậu cần phải lo thêm ba tháng cho đến ngày chiến thắng 7/5/1954.
Khó khăn ngày một nhiều khi đường sá xa xôi, cách trở, phương tiện vận chuyển thô sơ. Chiến dịch ban đầu định giải quyết trong 3 ngày, sau kéo dài thành 56 ngày đêm. Khó khăn chồng chất như thử thách tài trí của Chủ nhiệm Hậu cần chiến dịch Đặng Kim Giang.
Cánh đồng Điện Biên nằm lọt giữa vùng núi cao hiểm trở phía Tây Bắc Việt Nam. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, đối với cả hai bên tham chiến, vấn đề tiếp vận lương thực, đạn dược cho các đạo quân khổng lồ là một trong những câu hỏi nan giải nhất quyết định thành bại.
Đây là một trận chiến tay đôi mà hai bên biết nhau khá rõ: quân đội Pháp có khoảng 16000 người được tiếp viện chủ yếu bằng đường không qua 2 sân bay sẽ nằm trong tầm súng đại bác và súng phòng không nếu họ để đối phương tiến từ núi xung quanh xuống cánh đồng. Bộ đội Việt Nam phải nuôi quân số đông gấp hơn 3 lần quân Pháp. Tiếp vận bằng đường bộ từ các vùng hậu phương chính như Liên khu 3, Liên khu 4 cách xa mặt trận 600 – 800 km qua một con đường duy nhất với nhiều đèo, suối nằm trong tầm oanh tạc của không quân Pháp với khả năng phòng không khá hạn chế.
Kết quả là: trong suốt chiến dịch, Quân Liên hiệp Pháp huy động 100 máy bay Dacota, 16 C112 và một số lớn máy bay dân dụng lập một cầu hàng không khổng lồ nuôi tập đoàn cứ điểm trong khi Quân đội nhân dân Việt Nam ép sát, chia cắt sân bay, đưa súng cao xạ tập trung bắn hạ máy bay, bóp chặt "dạ dày" đối phương.
Từ ngoài thung lũng Điện Biên, phía Việt Nam huy động hàng trăm xe ô tô tải, và một đội quân thô sơ khổng lồ với 260 000 dân công, 21 000 xe đạp thồ, 20 000 xe bò, xe trâu, bè mảng... vận chuyển hàng hóa, quân lính trên con đường huyết mạch lên mặt trận dưới mưa bom napan, bom bướm, bom nổ chậm,... của 168 máy bay ném bom, trong đó có tới 48 chiếc "pháo đài bay" B26.
Nhiệm vụ điều phối lực lượng vận chuyển, cất trữ, phân phối khối lượng khổng lồ 27.000 tấn vật phẩm (gạo, muối, đường, thịt, quân trang, quân dụng, thuốc men, vật liệu,...), việc chăm lo cái ăn, cái mặc, thuốc men, chăm sóc y tế cho bộ đội được gọi chung là "hậu cần". Người được giao nhiệm vụ chỉ huy mảng công việc khó khăn và nặng nề này là ông Đặng Kim Giang với chức danh "chủ nhiệm cung cấp mặt trận", một trong bốn thành viên của Bộ Chỉ huy mặt trận Điện Biên Phủ.
Đây là trận chiến âm thầm, quyết liệt. Với phương tiện thông tin thô sơ, phối hợp rất đông các tổ chức dân sự và quân sự, công tác chỉ huy rất khó khăn và phức tạp. Hơn 260.000 dân công, hơn 22.000 thanh niên xung phong kết hợp cùng các lực lượng công binh, vận tải, quân y đã huy động 10 triệu ngày công, mở 4500 km đường xuyên rừng, bạt núi vận chuyển vũ khí, lương thực thương binh dưới bom đạn ác liệt.
Ông Giang báo cáo Tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong cuộc họp với Đảng ủy chiến dịch và cố vấn Trung Quốc về khó khăn của công tác hậu cần như sau: "…Điện Biên Phủ mỗi ngày quân ăn 50 tấn gạo, dân công gánh gạo từ Thanh Hóa lên đến kho thì tính ra chỉ còn 1 đến 2 kg mỗi người. Ta chỉ có 268 xe Liên Xô viện trợ, đường độc đạo bị địch đánh ghê gớm, nhất là ở đèo Lũng Lô, Ngã ba Cò Nòi".
Đường sá xa xôi, phương tiện thô sơ, nếu chỉ chuyên chở bằng sức người, dọc đường dân công ăn phần lớn lương thực, khi tới mặt trận chỉ còn 8%. Vũ khí một phần được Liên Xô, Trung Quốc viện trợ và phần đáng kể vẫn dùng của địch đánh địch, ví dụ trong số 20.000 đạn pháo của Việt Nam chỉ có 18% do Trung Quốc viện trợ còn lại phần lớn là dành dụm từ chiến lợi phẩm của Pháp trong nhiều trận đánh trước. Vì vậy chủng loại vũ khí khí tài rất phức tạp, công tác bảo trì, sửa chữa, cung cấp đạn dược thêm khó khăn.
Chiến dịch ban đầu định giải quyết trong vài ngày, sau kéo dài thành 55 ngày đêm, kết thúc khi mùa mưa đã bắt đầu, đường sá sình lầy, sông suối ngập lũ. Hàng vạn người chiến đấu chen chúc với xác chết và thương binh, bệnh dịch dễ dàng phát sinh. Ngoài phục vụ bộ đội còn phải đảm bảo điều kiện sinh hoạt cho dân công, và sau này là hàng ngàn tù binh địch. Trong khi Bộ Chỉ huy mặt trận với các bộ phận tư lệnh, tham mưu, chính trị, quân báo,... nằm tại chỉ huy sở Mường Phăng, thì riêng bộ phận chỉ huy hậu cần nằm riêng ra ngoài, sát đường vận chuyển để tiện chỉ huy.
Ông Đặng Kim Giang rong ruổi đêm ngày trên một chiếc xe Jeep Mỹ trần mui đốc chiến tại các cung đường giao thông, các kho đạn, bệnh viện dã chiến,... hễ leo lên xe là ngủ gà gật. Để ông khỏi ngã, người lái xe buộc chặt ông vào ghế, chỉ tháo ra khi đến nơi hoặc khi bị máy bay tấn công. Khi chiến dịch kết thúc, bệnh mất ngủ đã đeo đuổi ông đến cuối đời.
Sau này, nhà giáo Đỗ Ca Sơn, một chiến sỹ Điện Biên, từng tâm sự: "Anh là người đã lo từng hạt cơm, viên đạn để làm nên tiếng sấm Điện Biên Phủ, chiến thắng rung chuyển địa cầu. Có thiếu thốn về hậu cần chứ anh không để bộ đội đói. Anh đã đôn đốc đảm bảo đủ gạo ăn cho đến ngày chiến dịch thắng lợi."
Năm 1967, ông là một trong những nhân vật chính trong Vụ án Xét lại Chống Đảng. Bị tuyên án là gián điệp do đã tiết lộ nhiều thông tin mật của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cho các nhân viên ngoại giao nước ngoài. Ông bị giam 7 năm tại nhà tù Hỏa Lò Hà Nội và quản thúc 7 năm sau đó tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Sơn, tỉnh Hà Bắc (nay là huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Năm 1980 ông trở về Hà Nội, sống trong ngôi nhà cũ tại 30 ngõ Chùa Liên Phái thuộc quận Hai Bà Trưng.
Về già, ước mong cuối cùng của Ông trước lúc chết là được đeo trên ngực chiếc huy hiệu kỉ niệm "Chiến sĩ Điện Biên".



