Anh hùng Lực lượng vũ trang

ĐÔI VAI BẤT TỬ

Cao Bằng25/08/2026Trần Ngọc Kim Ngân (Phường Long Thuận)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Câu chuyện về Anh hùng Liệt sĩ Bế Văn Đàn

Có những con người đi qua lịch sử bằng những chiến công lớn lao. Nhưng cũng có những con người chỉ bằng một khoảnh khắc ngắn ngủi của đời mình đã khiến tên tuổi hóa thành bất tử.

Giữa những năm tháng khói lửa của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, giữa một Mường Pồn đỏ lửa đạn bom, người chiến sĩ trẻ Bế Văn Đàn đã làm nên một khoảnh khắc như thế.

Đó là câu chuyện về một đôi vai.

Một đôi vai của tuổi hai mươi.

Một đôi vai đã chọn trở thành giá súng để đồng đội tiếp tục chiến đấu.

Và từ giây phút ấy, đôi vai của một người lính vô danh giữa chiến trường đã trở thành biểu tượng không thể phai mờ của lòng yêu nước và sự hy sinh.

Ngày 12 tháng 12 năm 1953.

Chiến cuộc Đông Xuân 1953–1954 đang diễn ra quyết liệt. Tại Mường Pồn, lực lượng ta được giao nhiệm vụ bao vây, chặn đường quân Pháp rút từ Lai Châu về Điện Biên Phủ. Quân địch, được máy bay và hỏa lực yểm trợ, liên tiếp tổ chức những đợt phản kích dữ dội nhằm phá vòng vây.

Đại đội 674 của Tiểu đoàn 251, Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 phải chiến đấu trong một thế trận vô cùng khốc liệt.

Giữa trận địa ấy có một người chiến sĩ làm nhiệm vụ liên lạc: Bế Văn Đàn.

Sinh năm 1931 tại Cao Bằng, xuất thân trong một gia đình nghèo có truyền thống cách mạng, Bế Văn Đàn sớm bước vào con đường chiến đấu. Tháng 1 năm 1949, anh xung phong vào bộ đội. Những năm tháng quân ngũ tôi luyện người thanh niên Tày ấy thành một chiến sĩ gan dạ, bền bỉ và luôn sẵn sàng nhận nhiệm vụ. (Nhân vật - Sự kiện TTXVN)

Ngày hôm ấy, khi trận chiến ngày càng căng thẳng, Bế Văn Đàn vừa hoàn thành nhiệm vụ truyền đạt mệnh lệnh đã được lệnh ở lại trực tiếp chiến đấu cùng đơn vị.

Quân Pháp mở đợt phản kích thứ ba.

Chúng ào lên.

Tiếng súng dồn dập xé toạc không gian Mường Pồn. Quân ta thương vong nhiều, lực lượng chỉ còn lại 17 người. Bế Văn Đàn cũng đã bị thương, nhưng anh vẫn ở lại trận địa.

Trong khoảnh khắc sinh tử ấy, một khẩu trung liên của ta không thể tiếp tục khai hỏa vì xạ thủ đã hy sinh. Khẩu súng của Chu Văn Pù cũng chưa thể phát huy tác dụng vì không có vị trí thích hợp để đặt chân súng. Trong khi đó, quân địch đang từng bước áp sát.

Chỉ một khoảng lặng của hỏa lực cũng có thể khiến thế trận đổi chiều.

Và rồi, Bế Văn Đàn đã bước ra.

Không phải với một khẩu súng trong tay.

Không phải với một mệnh lệnh trên giấy.

Mà bằng chính thân thể của mình.

Anh lao tới, cầm hai chân khẩu trung liên đặt lên vai mình, biến đôi vai đang mang thương tích thành điểm tựa cho khẩu súng.

Chu Văn Pù còn chần chừ.

Có lẽ người đồng đội ấy hiểu rằng, bóp cò lúc đó cũng có nghĩa là chấp nhận để người đang làm giá súng cho mình tiếp tục chịu đau đớn.

Nhưng phía trước là quân thù.

Phía sau là đồng đội.

Và giữa hai phía ấy là một người lính trẻ đã lựa chọn.

Bế Văn Đàn giục đồng đội nổ súng:

“Kẻ thù trước mặt, đồng chí có thương tôi thì bắn chết chúng nó đi.” (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Khẩu súng rung lên trên đôi vai người chiến sĩ.

Đạn xé vào đội hình quân địch.

Hàng chục tên địch bị loại khỏi vòng chiến đấu, cuộc phản kích bị bẻ gãy. (Nhân vật - Sự kiện TTXVN)

Nhưng chiến thắng ấy được đổi bằng máu.

Trong lúc giữ khẩu súng trên vai, Bế Văn Đàn tiếp tục bị thương. Anh vẫn không buông.

Cho đến khi sự sống rời khỏi cơ thể người lính trẻ, hai tay anh vẫn ghì chặt chân súng trên vai mình. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Anh hy sinh ngày 12 tháng 12 năm 1953.

Hai mươi hai tuổi.

Một tuổi đời quá ngắn để một con người kịp sống hết những ước vọng riêng tư. Nhưng cũng chính ở tuổi ấy, Bế Văn Đàn đã trao cho đất nước thứ quý giá nhất mà một con người có thể trao: sự sống của chính mình.

Có lẽ điều khiến câu chuyện về Bế Văn Đàn sống mãi không chỉ nằm ở việc anh đã làm một điều phi thường.

Điều khiến người đời xúc động hơn cả là ở thời khắc mà bản năng con người thường níu giữ sự sống, anh lại nghĩ đến đồng đội.

Ở thời khắc mà thân thể đã bị thương, anh vẫn nghĩ đến nhiệm vụ.

Ở thời khắc mà cái chết chỉ còn cách một khoảng rất ngắn, anh vẫn hướng ánh mắt về phía kẻ thù.

Đôi vai ấy, vì thế, không chỉ đỡ một khẩu súng.

Nó gánh trên mình niềm tin của đồng đội, trách nhiệm của người chiến sĩ và lý tưởng của cả một thế hệ.

Bế Văn Đàn ngã xuống ở Mường Pồn, nhưng sự hy sinh của anh không khép lại cùng ngày 12 tháng 12 năm 1953. Tấm gương của anh tiếp tục được truyền đi trên toàn mặt trận, cổ vũ cán bộ, chiến sĩ thi đua chiến đấu, góp phần vào thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ. (Nhân vật - Sự kiện TTXVN)

Sau khi hy sinh, anh được truy tặng Huân chương Chiến công hạng Nhất và được bình bầu là Chiến sĩ thi đua số một của Đại đoàn 316. Ngày 31 tháng 8 năm 1955, anh được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân và Huân chương Quân công hạng Nhì. (Nhân vật - Sự kiện TTXVN)

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất cho một người lính không nằm trên những tấm huân chương.

Mà nằm trong ký ức của dân tộc.

Bởi lịch sử có thể ghi tên anh bằng những dòng ngắn ngủi, nhưng nhân dân đã ghi tên anh bằng lòng biết ơn.

Và mỗi khi câu chuyện về Mường Pồn được nhắc lại, người ta không chỉ nhớ đến một trận đánh.

Người ta nhớ đến một người lính trẻ.

Nhớ đến đôi vai đã hóa thành giá súng.

Nhớ đến một sự sống đã hóa thành biểu tượng.

Bế Văn Đàn đã nằm lại giữa đất Mường Pồn, nhưng từ khoảnh khắc ấy, anh không còn thuộc về riêng một quê hương, một đơn vị hay một thời đại. Anh thuộc về ký ức của cả dân tộc.

Đôi vai anh đã không còn mang khẩu súng năm nào.

Nhưng lịch sử Việt Nam vẫn mang trên mình dấu ấn của đôi vai ấy.

Một đôi vai đã từng gánh lấy hỏa lực giữa chiến trường.

Và cuối cùng, gánh lấy cả một phần ký ức hào hùng của Tổ quốc.

Tác giả nguồn: Chính-Huệ (tổng hợp), Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; đối chiếu với hồ sơ TTXVN và Ban Quản lý di tích tỉnh Điện Biên. (Bảo tàng Lịch sử Quốc gia)

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn