Những "Đại đội xe thồ" Điện Biên năm ấy
Nếu tiền tuyến Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) là nơi đọ sức của những đại đoàn thép, thì hậu phương lại là cuộc đối đầu về mặt chiến lược mà thực dân Pháp không bao giờ ngờ tới. Giữa cảnh núi cao vực thẳm của Tây Bắc, những "Đại đội xe thồ" — được mệnh danh là những "con voi sắt" thô sơ — đã viết nên một kỳ tích có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Nếu tiền tuyến Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) là nơi đọ sức của những đại đoàn thép, thì hậu phương lại là cuộc đối đầu về mặt chiến lược mà thực dân Pháp không bao giờ ngờ tới. Giữa cảnh núi cao vực thẳm của Tây Bắc, những "Đại đội xe thồ" — được mệnh danh là những "con voi sắt" thô sơ — đã viết nên một kỳ tích có một không hai trong lịch sử chiến tranh thế giới.
Vũ khí đặc biệt từ những chiếc xe đạp thô sơ
Để nuôi sống hơn 5 vạn bộ đội và hàng vạn dân công tại lòng chảo Điện Biên Phủ trong suốt nhiều tháng trời, ta cần một lượng lương thực, thực phẩm và đạn dược khổng lồ. Trong khi đó, đường sá Tây Bắc bị máy bay Pháp đánh phá tơi tả, xe vận tải cơ giới của ta lại quá ít ỏi.
Chính trong cái khó ấy, sáng kiến cải tiến chiếc xe đạp thầu (xe đạp thồ) đã ra đời. Những chiếc xe đạp Peugeot, Sterling vốn là tài sản quý giá của người dân đô thị hay vùng đồng bằng, giờ đây được tháo bỏ bớt những bộ phận rườm rà (chuông, chắn bùn, gác-đờ-bu) và "độ" lại để ra trận:
Gia cố khung xe: Buộc thêm những thanh tre, gỗ nhỏ vào khung để tăng độ chịu lực.
Làm tay ngai: Buộc một đoạn tre chắc chắn vào ghi-đông để điều khiển xe khi đẩy.
Làm tay ngáng: Buộc một đoạn tre ở cọc yên để giữ thăng bằng và đẩy xe từ phía sau.
Tăng phanh: Lót thêm cao su hoặc gỗ vào má phanh để đảm bảo an toàn khi xuống dốc.
Từ chỗ ban đầu mỗi xe chỉ chở được từ $30 \text{ kg}$ đến $50 \text{ kg}$, nhờ những cải tiến thô sơ mà sáng tạo này, trọng tải của xe thồ đã tăng lên $100 \text{ kg}$, $200 \text{ kg}$ và thậm chí là hơn $300 \text{ kg}$ — tương đương sức chở của một con voi hoặc mười người gánh bộ.
Những đại đội vượt núi, băng đèo
Hàng vạn dân công từ Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Phú Thọ... đã gia nhập các "Đại đội xe thồ", hành quân rầm rập hướng về Tây Bắc. Mỗi đại đội được tổ chức chặt chẽ như một đơn vị quân đội, có ban chỉ huy, có các tổ ba người để hỗ trợ nhau khi lên dốc, xuống đèo.
Cảnh tượng những đại đội xe thồ hành quân trong đêm là một bức tranh vô cùng tráng lệ. Để tránh máy bay địch phát hiện, họ đi vào ban đêm. Những chiếc đèn dầu, đèn pin được che chắn cẩn thận chỉ đủ soi lối đi dưới chân. Họ vượt qua những con đèo độc đạo khét tiếng như đèo Pha Đinh, đèo Chẹn... Trời mưa, đường trơn trượt như đổ mỡ, một bên là vách đá dựng đứng, một bên là vực sâu hun hút.
Khi lên dốc cao, một người đẩy ngai, một người kéo dây phía trước, hàm răng nghiến chặt, mồ hôi đổ xuống hòa cùng sương đêm. Khi xuống dốc, họ dùng cả thân người làm phanh, gồng mình kìm chiếc xe nặng hàng trăm ký lô không lao xuống vực. Nhiều chiến sĩ dân công đã kiệt sức, nhiều chiếc xe bị gãy khung, nhưng cứ người này ngã xuống thì người khác lại tiến lên, quyết không để mạch máu hậu cần bị đứt đoạn.
Những "Kỷ lục gia" thầm lặng
Trong lực lượng xe thồ Điện Biên năm ấy, có những câu chuyện vượt qua mọi giới hạn thông thường của con người:
Anh hùng Cao Văn Tỵ (quê Thanh Hóa): Người đã đạt kỷ lục thồ $320 \text{ kg}$ hàng trên một chuyến xe đạp thô sơ.
Anh Ma Văn Thắng (quê Phú Thọ): Với chiếc xe đạp thồ của mình, ông đã lập kỷ lục vô tiền khoáng hậu tại chiến dịch khi chở tới $352 \text{ kg}$ hàng (gần gấp 6 lần trọng lượng cơ thể ông).
Điều kỳ diệu là những người dân công ấy ăn uống vô cùng kham khổ, mỗi ngày chỉ vài nắm cơm chấm muối vừng, rau rừng, nhưng họ lại có một sức mạnh phi thường để di chuyển hàng chục cây số đường đèo dốc mỗi đêm với khối lượng hàng hóa khổng lồ trên tay.
Sự kinh ngạc của kẻ thù và chiến thắng của lòng dân
Tướng Navarre và các tướng lĩnh Pháp tại Điện Biên Phủ đã hoàn toàn thất bại trong việc tính toán khả năng hậu cần của quân đội ta. Họ tin rằng Việt Minh không thể vận chuyển đủ lương thực qua hàng trăm cây số vườn rậm để nuôi quân. Nhưng họ đã thua trước những "Đại đội xe thồ".
Sau này, trong hồi ký của mình, nhiều sĩ quan Pháp đã phải thừa nhận: "Thứ vũ khí làm nên chiến thắng của Việt Minh tại Điện Biên Phủ không phải là pháo phòng không, mà chính là những chiếc xe đạp thồ". Những chiếc xe thồ ấy không chỉ chở gạo, chở đạn, mà chở cả ý chí quyết tâm, lòng yêu nước và khát vọng độc lập cháy bỏng của một dân tộc.



