Cựu chiến binh

Những dấu ấn của Đại tướng Lê Đức Anh trong công tác ngoại giao

Những dấu ấn của Đại tướng Lê Đức Anh trong công tác ngoại giao

Huế15/08/2026Trinh Thông (Bắc Ruộng)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cố Tổng Bí thư Đỗ Mười đã viết về Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh như sau: “Giai đoạn tôi làm Tổng Bí thư, anh Lê Đức Anh làm Chủ tịch nước, anh Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng, anh Đoàn Khuê làm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. Đây là thời kỳ ta triển khai công tác đổi mới rất mạnh, mà trọng tâm là đổi mới về kinh tế... Khi anh Lê Đức Anh làm Chủ Tịch nước thì ta thật sự mở rộng quan hệ với nước ngoài”. Trên cương vị Chủ tịch nước (23/9/1992 – 23/9/1997), Đại tướng Lê Đức Anh đã có những đóng góp quan trọng, để lại nhiều dấu ấn trong công tác ngoại giao của Việt Nam.

Thực hiện đường lối Đổi mới, năm 1986, Việt Nam tiến hành bình thường hóa quan hệ với một số nước, trong đó có hai nước lớn là Trung Quốc và Mỹ. Bộ Chính trị giao cho lãnh đạo Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng đảm nhận công việc này.

Đối với việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc, tháng 3/1987, Đại tướng Lê Đức Anh đã có cuộc gặp gỡ với một số người đại diện và có uy tín trong cộng đồng người Hoa ở khu vực Chợ Lớn (Thành phố Hồ Chí Minh). Tại buổi gặp gỡ, đồng chí đã phát biểu: “… Vừa rồi xảy ra chuyện Trung Quốc và Việt Nam xung khắc nhau là chuyện không bình thường. Vì vậy, cả người Việt Nam và người Hoa có trách nhiệm góp sức mình hàn gắn lại tình hữu nghị, đoàn kết để xóa bỏ cái không bình thường này. Tình hữu nghị Việt – Trung là truyền thống tốt đẹp, chúng ta cần làm cho nó bền vững và phát triển”. [1] Ngay sau đó, Đại tướng mời Đại sứ Trung Quốc Trương Đức Duy đến dùng cơm tại Nhà khách Bộ Quốc Phòng.

Cuối tháng 7/1991, Đại tướng Lê Đức Anh trong vai trò phái viên của Bộ Chính trị được cử sang Trung Quốc để bàn bạc những vấn đề cụ thể về việc bình thường hóa quan hệ hai nước. Sau khi Đại tướng Lê Đức Anh đi "tiền trạm" về, từ ngày 05 đến ngày 10/11/1991, nhận lời mời của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân và Thủ tướng Quốc vụ Viện Trung Quốc Lý Bằng, đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam do Tổng Bí thư Đỗ Mười và Thủ tướng Võ Văn Kiệt dẫn đầu sang thăm chính thức Trung Quốc. Sau lễ đón và hội đàm, hai bên ra Thông cáo chung và ký Hiệp định chính thức bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Trung – Việt trên cơ sở 5 nguyên tắc chung sống hòa bình, đồng thời ký kết quan hệ bình thường giữa hai Đảng, mở đầu trang sử mới trong quan hệ giữa hai Đảng, hai nước sau hơn 10 năm trắc trở.



Chủ tịch nước Lê Đức Anh và Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân duyệt đội danh dự tại Lễ đón ở Đại Lễ đường nhân dân, thủ đô Bắc Kinh, ngày 9/11/1993, trong chuyến thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc từ ngày 09 - 15/11/1993. Ảnh: Cao Phong/TTXVN.

Đối với việc bình thường hóa quan hệ với Mỹ, đồng chí Lê Đức Anh, khi đó là Chủ tịch nước đã chọn con đường tiếp cận từ khoa học. Đồng chí Lê Đức Anh đã cử đồng chí Nguyễn Huy Phan (Thiếu tướng, Bác sĩ Viện Quân y 108, Giáo sư đầu ngành về y học phẫu thuật chỉnh hình) làm “người mở đầu”. Sau chuyến đi của đồng chí Nguyễn Huy Phan, một đoàn chuyên gia “Phẫu thuật nụ cười” của Mỹ đã sang Việt Nam tham gia phẫu thuật nhân đạo cho trẻ em bị khuyết tật môi, hở hàm ếch. Sau đó, đồng chí Nguyễn Huy Phan được Chính phủ trao trọng trách làm Chủ tịch Hội Hữu nghị Việt – Mỹ.

Sau chương trình “Phẫu thuật nụ cười”, Việt Nam đã tiến hành tạo thuận lợi cho Mỹ trở lại Việt Nam tìm người Mỹ mất tích và hài cốt lính Mỹ chết trong chiến tranh (gọi tắt là POW/MIA).

Đây là vấn đề phía Mỹ đặc biệt quan tâm nên ngay từ cuối thập kỷ 70 họ đã cử người sang Việt Nam, nhất là từ năm 1987, các cuộc tiếp xúc nhanh hơn, liên tục và dồn dập hơn. Tháng 4/1991, Mỹ mở văn phòng tại Hà Nội liên quan đến vấn đề MIA. Tháng 2/1992, thành lập Lực lượng đặc nhiệm tìm kiếm hỗn hợp về MIA.

Mặc dù lúc đầu phía Mỹ khăng khăng xem đây là điều kiện tiên quyết để bình thường hóa quan hệ, nhưng trước sau như một, Việt Nam vẫn khẳng định đây là vấn đề nhân đạo, thuần túy nhân đạo không gắn với chính trị.

Từ ngày 16 đến ngày 21/11/1992, phía Mỹ cử một đoàn do Thượng nghị sỹ John Kerry dẫn đầu sang Việt Nam. Ngày 18/11/1992, với cương vị Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khi tiếp đoàn, đồng chí Lê Đức Anh khẳng định một lần nữa chính sách nhất quán của Việt Nam coi vấn đề POW/MIA là thuần túy nhân đạo. Khi sang Việt Nam, Phái đoàn Mỹ có gợi ý việc cho phái đoàn Mỹ đi thăm những nơi “nhạy cảm” nhất để gỡ bỏ hoài nghi của dư luận Mỹ về việc Việt Nam vẫn còn giấu tù binh Mỹ. Trong vấn đề “nhạy cảm” này, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã “đích thân dẫn ông John Kerry và ông John McCain đi thăm những nơi mà phía Mỹ nghi là Việt Nam còn giấu tù binh là quân nhân của họ. Những nơi đó rất nhạy cảm. Ông Kerry, ông John McCain được chứng kiến tận nơi các địa điểm đó và xác nhận không hề có chuyện giấu tù binh”.



Chủ tịch nước Lê Đức Anh tiếp Bộ trưởng ngoại giao Hoa Kỳ Warren Christopher, ngày 05/8/1995, tại Phủ Chủ tịch. Ảnh: Xuân Tuân/TTXVN.

Tháng 7/1993, Tổng thống Bill Clinton mở đường cho các tổ chức tài chính quốc tế bao gồm Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) cung cấp tín dụng cho Việt Nam. Ngày 03/2/1994, Tổng thống Bill Clinton tuyên bố chấm dứt lệnh cấm vận thương mại kéo dài 19 năm đối với Việt Nam. Ngày 12/7/1995, hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao và mở văn phòng liên lạc tại Washington và Hà Nội. Tháng 10/1995, Chủ tịch nước Lê Đức Anh sang New York dự Lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Liên hợp quốc; đồng chí trở thành Nguyên thủ quốc gia đầu tiên của Việt Nam đặt chân đến Mỹ. Tháng 11/1997, lập Tổng Lãnh sự quán của hai nước tại thành phố San Francisco và Thành phố Hồ Chí Minh.



Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton và phu nhân đón tiếp Chủ tịch nước Lê Đức Anh và phu nhân tại Hoa Kỳ, năm 1995. Ảnh tư liệu.

Cùng với việc xúc tiến bình thường hóa quan hệ với Mỹ, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã có nhiều đóng góp cho tiến trình thúc đẩy để Việt Nam gia nhập ASEAN vào ngày 28/7/1995.



Chủ tịch nước Lê Đức Anh gặp Chủ tịch Cuba Fidel Castro trong chuyến thăm hữu nghị chính thức nước Cộng hòa Cuba (ngày 12 - 17/10/1995). Ảnh tư liệu.

Đồng chí Lê Đức Anh đã cùng Bộ Chính trị chỉ đạo sát sao các bộ, ngành để mở rộng quan hệ với các nước. Sau khi Việt Nam và Mỹ bình thường hóa quan hệ, hàng loạt các quốc gia tìm đến Việt Nam để tìm hiểu và hợp tác, đầu tư về kinh tế và khoa học công nghệ. Cũng trong nhiệm kỳ này, thay mặt Nhà nước và Nhân dân ta, Chủ tịch nước Lê Đức Anh đã đi dự một số hội nghị quốc tế quan trọng; thăm chính thức và làm việc với 13 nước trên thế giới; đón tiếp 26 nguyên thủ quốc gia thăm hữu nghị chính thức và nhiều đoàn khách quốc tế tới thăm Việt Nam; tiếp nhận 90 đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài tại Việt Nam và cử 57 đại sứ của nước ta tại các nước có quan hệ ngoại giao với Việt Nam; ký quyết định phê chuẩn 1 Hiến chương, 26 Công ước, 5 Hiệp ước, 35 Hiệp định, 3 Nghị định thư giữa Việt Nam với các nước và tổ chức quốc tế; trình Quốc hội phê chuẩn 1 Công ước theo quy định của Hiến pháp (Công ước quốc tế về Luật biển); ủy quyền đàm phán và ký kết một số điều ước quốc tế khác.[2]

Có thể nói, những dấu ấn của Chủ tịch nước, Đại tướng Lê Đức Anh trong công tác ngoại giao đã góp phần “đưa nước ta thật sự mở rộng quan hệ với nước ngoài” theo đúng chủ trương của Đảng “Việt Nam muốn là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và các dân tộc trên thế giới”./.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn