NHỮNG DẤU CHÂN GIỮA RỪNG
Có những lúc, một dấu chân trên đất hay một làn khói mỏng giữa rừng cũng có thể báo trước hiểm nguy. Trước đây, em nghĩ những người lính trinh sát phải rất gan dạ mới có thể hoàn thành nhiệm vụ trong chiến tranh. Nhưng sau khi được nghe bác Nguyễn Trung Kỳ kể về những lần thoát khỏi phục kích giữa chiến trường Campuchia, em hiểu rằng lòng dũng cảm thôi chưa đủ. Người lính còn cần sự bình tĩnh, óc quan sát và khả năng phán đoán để bảo vệ mình cùng đồng đội. Hai câu chuyện bác kể đã giúp em hiểu sâu sắc hơn về công việc thầm lặng mà đầy nguy hiểm của những người lính trinh sát năm xưa.
Vào những ngày cuối tháng 5 năm 1970, quân địch tăng cường đổ quân, lập nhiều chốt dã ngoại dọc vùng biên giới Việt Nam – Campuchia. Lực lượng Trung đoàn phải phân tán, các đơn vị chia thành nhiều bộ phận để phục vụ những Tiểu đoàn khác nhau. Trong khi đó, những căn cứ của địch ở vùng ven như Kà Tum, Xa Mát, Thiện Ngôn được chúng coi là nơi tương đối yên ổn. Vì vậy, cấp trên chủ trương tổ chức lực lượng bám sát địch, luồn sâu tập kích hỏa lực vào hậu phương của chúng, buộc địch phải phân tán lực lượng để bảo vệ các cứ điểm.
Đại đội 2, Tiểu đoàn 6 nhận nhiệm vụ tập kích bằng súng cối 120 ly vào căn cứ Kà Tum. Tổ trinh sát thông tin C14 được giao đảm nhiệm đài quan sát, phối hợp với đơn vị thực hiện nhiệm vụ. Do lực lượng đang phân tán, tổ của bác Kỳ chỉ có năm người, gồm ba chiến sĩ trinh sát và hai chiến sĩ thông tin.
Trước giờ hành quân, bác Kỳ quán triệt nhiệm vụ, nhắc đồng đội về phương án tác chiến khi gặp địch và hướng rút lui nếu tình huống bất ngờ xảy ra. Với những người lính trinh sát, việc bị phục kích hoặc bất ngờ chạm địch có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Bởi vậy, cả tổ phải giữ cự li đội hình hợp lí, luôn cảnh giác và sẵn sàng chiến đấu.
Sau nhiều giờ băng rừng, lội suối, khoảng 14 giờ, tổ trinh sát đi trên một con đường lâu ngày không có người qua lại, cỏ mọc cao khiến tầm quan sát bị hạn chế. Bỗng nhiên, họ phát hiện những dấu giày in trên đất và một mẩu thuốc lá vừa bị vứt lại bên đường. Những dấu hiệu nhỏ ấy khiến các chiến sĩ càng thận trọng. Từng bước chân đều nhẹ nhàng, đội hình giãn cách, mọi người sẵn sàng đối phó với tình huống bất ngờ.
Rồi một tiếng nổ chói tai vang lên ngay phía sau, gần vị trí đồng chí Hiệp, chiến sĩ thông tin đi cuối đội hình. Khói bụi bốc lên mù mịt. Bốn khẩu súng AK lập tức hướng về phía trước, đồng loạt nhả đạn. Địch bắn trả, nhưng do bị bất ngờ, hỏa lực của chúng không phát huy được như mong muốn. Tận dụng thời cơ, bác Kỳ ra hiệu cho cả năm người nhanh chóng rút khỏi khu vực nguy hiểm.
Nhờ giữ được bình tĩnh và phối hợp với nhau, cả tổ đều an toàn. Sau khi củng cố đội hình, xác định lại phương hướng, các chiến sĩ tiếp tục hành quân đến đài quan sát để kịp giờ đơn vị nổ súng.
Đến 17 giờ, trận địa cối 120 ly của Tiểu đoàn 6 đã sẵn sàng. Liên lạc từ đài quan sát xuống trận địa được bảo đảm thông suốt. Sau ba viên đạn hiệu chỉnh, hai mươi quả đạn cối tiếp theo dồn dập rơi vào căn cứ Kà Tum. Nhiệm vụ hoàn thành, tổ trinh sát rút ra phía sau khoảng ba ki-lô-mét. Vì trời đã tối, các chiến sĩ mắc võng ngủ lại trong rừng, ăn gạo rang, uống nước suối và chờ sáng hôm sau trở về căn cứ.
Nghe bác kể, em ấn tượng với cách các chiến sĩ vượt qua tình huống bất ngờ mà không để nhiệm vụ bị gián đoạn. Họ không hoảng loạn, cũng không vì vừa thoát hiểm mà bỏ dở công việc. Em hiểu rằng sự bình tĩnh và tinh thần trách nhiệm đã giúp họ tiếp tục thực hiện nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, câu chuyện thứ hai mới thực sự khiến em suy nghĩ nhiều về giá trị của kinh nghiệm và khả năng phán đoán của người lính trinh sát.
Giữa tháng 10 năm ấy, khi mùa khô bắt đầu, bác Kỳ cùng một phân đội trinh sát được giao nhiệm vụ đo đạc trận địa mới, phục vụ Tiểu đoàn 6 đánh Tống Lê Chân, còn gọi là Cần Lê. Đoàn có mười lăm người, hành quân về phía đông bắc căn cứ khoảng năm ki-lô-mét. Trận địa cũ ở hướng bắc đã bị lộ, thường xuyên bị địch khống chế nên Trung đoàn quyết định chuẩn bị vị trí mới để bảo đảm an toàn.
Sau một ngày đo đạc, đoàn bắt đầu trở về căn cứ. Trên đường đi, họ phải vượt qua một con suối cạn, lòng suối chỉ còn lớp bùn se đặc. Khi cách vị trí con suối khoảng hai ki-lô-mét, cả đoàn dừng lại nấu cơm trưa. Đúng lúc ấy, phía trước xuất hiện một bầy trực thăng bay thấp, bắn xuống rồi đổ quân.
Cán bộ Đại đội 2 gọi bác Kỳ lên cùng xác định vị trí địch. Quan sát bản đồ và suy xét tình hình, bác nhận định địch đã đổ quân ở bờ suối cạn. Người chỉ huy lại cho rằng chúng đóng ở một trảng đất phía trên, cách đó hơn một ki-lô-mét.
Bác Kỳ giải thích rằng hôm trước, tổ trinh sát đã để lại dấu chân khi lội qua suối, nhưng chưa thấy dấu chân quay về. Bác nghi ngờ lực lượng biệt kích từ căn cứ Tống Lê Chân đã phát hiện dấu vết, báo cáo để xin quân chi viện, lập chốt phục kích đoàn đang trở về. Tuy nhiên, người chỉ huy vẫn quyết định đi theo đường cũ.
Dù không được chấp nhận ý kiến, bác Kỳ vẫn chấp hành mệnh lệnh, đồng thời nhắc mọi người phải cảnh giác, giữ đội hình giãn cách và sẵn sàng chiến đấu. Bác cũng xác định trước hướng rút lui nếu gặp địch. Với em, đây là một chi tiết rất đáng suy ngẫm: người lính không chỉ cần có chính kiến và khả năng phán đoán, mà còn phải biết giữ kỉ luật, chủ động chuẩn bị phương án để bảo vệ cả đoàn.
Sau bữa trưa, đoàn tiếp tục hành quân. Khi gần đến bìa trảng, tổ trinh sát phát hiện mùi khét và làn khói xanh. Bác Kỳ lập tức ra hiệu dừng lại, cho trinh sát tiến lên quan sát. Từ phía bên kia bãi trảng, tiếng chặt cây làm hầm và tiếng gọi nhau của biệt kích vang lên rất rõ. Những dấu hiệu ấy cho thấy khu vực phía trước không còn an toàn.
Lúc này, người chỉ huy tiến đến hỏi bác Kỳ nên đi đường nào. Bác trả lời dứt khoát: “Cắt phương vị 45-00”. Sau đó, bác cùng hai chiến sĩ trinh sát xác định hướng tây và cắt rừng để tránh vị trí địch đang đóng quân. Sau khoảng hai giờ, họ gặp lại con đường dẫn ra đài quan sát cũ ở phía bắc căn cứ Tống Lê Chân. Cả đoàn tiếp tục theo đường cũ, vượt qua thượng nguồn sông Sài Gòn và trở về căn cứ an toàn.
Đọc đến đoạn này, em cảm thấy khâm phục bác Kỳ không chỉ bởi sự gan dạ mà còn vì khả năng quan sát, suy luận từ những chi tiết rất nhỏ. Một dòng suối cạn, những dấu chân chưa có dấu quay về, mùi khói và tiếng chặt cây giữa rừng – tất cả đều trở thành căn cứ để bác nhận định tình hình. Nếu không chú ý đến những dấu hiệu ấy, đoàn có thể đã đi vào khu vực nguy hiểm.
Tháng 11 năm 1970, bác Kỳ bàn giao chức vụ Trung đội trưởng trinh sát cho đồng chí Trần Nguyên Hoan rồi chuyển về Ban Tham mưu làm trợ lý trinh sát. Những câu chuyện bác kể không dài dòng, nhưng giúp em hình dung được phần nào công việc của những người lính trinh sát trong chiến tranh. Họ phải đi trước, tìm hiểu tình hình, xác định vị trí và giúp đơn vị lựa chọn cách hành động phù hợp. Nhiều khi, sự an toàn của cả đoàn phụ thuộc vào khả năng phát hiện nguy hiểm từ những dấu hiệu tưởng như rất bình thường.
Là học sinh lớp 9, em chưa có những trải nghiệm như các chiến sĩ năm xưa. Nhưng qua câu chuyện của bác Nguyễn Trung Kỳ, em hiểu rằng lòng dũng cảm cần đi cùng sự tỉnh táo, kiến thức và tinh thần trách nhiệm. Trong học tập cũng như cuộc sống, em cần biết quan sát, suy nghĩ trước khi hành động, dám nêu ý kiến có căn cứ và biết tôn trọng kỉ luật tập thể.
Những dấu chân giữa rừng năm ấy đã giúp người lính nhận ra hiểm nguy; còn câu chuyện của bác hôm nay giúp em nhận ra giá trị của sự cẩn trọng và trí tuệ. Em càng biết ơn những người đã trải qua gian khổ để bảo vệ Tổ quốc, để thế hệ chúng em được sống, học tập trong hòa bình. Em sẽ cố gắng học tập và rèn luyện tốt hơn, bởi em hiểu rằng tiếp nối truyền thống cha anh không chỉ là ghi nhớ những chiến công, mà còn là học tập những phẩm chất tốt đẹp của họ trong từng việc làm hằng ngày.
Người viết
Nguyễn Thị Khánh Ngọc - Lớp 9A4 - Trường THCS Dương Hòa 1
- xã Dương Hòa - Hà Nội



