Những điều chưa biết về nữ anh hùng Trần Thị Lý
Câu chuyện về Nữ anh hùng Trần Thị Lý
Giữa năm 1958, BV Việt – Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: “Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục”.
Người con gái anh hùng
Từ nhà mẹ Suốt, chúng tôi có ý định vào Đà Nẵng để tìm hiểu về người con gái Việt Nam anh hùng Trần Thị Lý. Cái khó nhất là chúng tôi chỉ biết chị Lý từng sống ở Đà Nẵng và có trường Trần Thị Lý ở TP Đà Nẵng, còn những thông tin khác như gia đình chị Trần Thị Lý bây giờ ở đâu, chị Lý mất khi nào, những kỷ vật còn lại của chị Lý... thì chúng tôi mù tịt. Rất may, chúng tôi nghe được thông tin chị Lý có một người con nuôi Thùy Linh đang ở phố Lê Lợi, Đà Nẵng. Liên lạc với Thuỳ Linh, chúng tôi nhận được một lời hẹn gặp ông Tuấn, ba nuôi của Thuỳ Linh, chồng của chị Lý.
Hơn 9 giờ sáng, chúng tôi có mặt tại ngôi nhà của gia đình chị Lý trên phố Lê Lợi. Tiếp chúng tôi là một người đàn ông gầy yếu. Ông bị căn bệnh hễ cứ gặp nắng, gió là ốm nên không thể ra ngoài được. Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về cuộc đời của chị Lý, ông lặng đi một lát rồi nói: Lý mất rồi, những kỷ vật của Lý cũng không còn nhiều nữa. Nhưng những gì về Lý thì ông chẳng thể nào quên.
Những năm 1956-1958, chiến trường Quảng Nam – Đà Nẵng cực kỳ ác liệt. Từ năm 1956, chị Lý lúc đó mới 23 tuổi đã tham gia làm giao liên cho cách mạng ở huyện Điện Bàn – Quảng Nam. Gia đình chị Lý có 7 anh chị em thì có tới 5 người là liệt sĩ. Ngay tại nghĩa trang liệt sĩ Quảng Nam, mộ 3 chị em của chị Lý cùng đặt ở đây.
Chị Lý bị bắt khi đang trên đường đi công tác. Những ngày ở tù, chị phải hứng chịu biết bao đòn tra tấn khủng khiếp của kẻ thù. Sau này nhà báo Bích Thuận (Báo Phụ nữ VN) đã vào tận nơi tìm hiểu khi chị Lý còn sống và đã viết cuốn sách Sống giữa tình thương nói về đoạn đời oanh liệt của chị Trần Thị Lý.
Có lẽ cũng ít người biết được Trần Thị Lý chính là cháu nhà cách mạng Trần Cao Vân, người đã nhiều lần mưu toan chống Pháp và bị đi đày ở Côn Đảo 6 năm. Năm 1916, Trần Cao Vân cùng Thái Phiên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Quang Phục hội. Khởi nghĩa thất bại, 2 ông bị bắt và bị chém ở cố đô Huế.
Trần Thị Lý tên thật là Trần Thị Nhâm. Chị được kết nạp Đảng năm 18 tuổi. Trần Thị Lý bị bắt năm 1956 và để khuất phục chị, bọn địch đã không từ bất cứ thủ đoạn tra tấn dã man tàn ác nào. Sau hơn 2 năm giam cầm, tù đầy, tra tấn dã man mà không khai thác được gì, địch vứt chị Lý ra ngoài nhà lao vì tưởng chị đã chết.
Nhưng chị vẫn sống với một sức mạnh lạ kỳ. Tổ chức đã quyết định đưa chị ra Bắc trong một hành trình rất đặc biệt: từ Quảng Nam vào Sài Gòn, sang Phnômpênh (Campuchia) rồi từ đó bay bằng máy bay ra Hà Nội, trong lúc chị Lý mình đầy thương tích.
Lúc đó là vào giữa năm 1958. Phòng bệnh số 8, Nhà A1, BV Việt – Xô tiếp nhận một bệnh nhân đặc biệt. Hồ sơ bệnh án ghi: “Trần Thị Nhâm (tức Lý), tuổi 25, quê Miền Nam, cân nặng: 26 kg. Tình trạng bệnh: Suy kiệt, luôn lên cơn co giật, có 42 vết thương trên người liên tục rỉ máu, đầu vú bị cắt còn loét nham nhở, bộ phận sinh dục chảy máu liên tục”.
Nhà thơ Tố Hữu đã đến bên giường bệnh thăm chị và ông đã khóc vì quá xúc động. Bài thơ Người con gái VN của ông xuất hiện tháng 12/1958. Bài thơ sau đó đưa vào sách giáo khoa, được dịch ra nhiều thứ tiếng, gây xúc động lòng người và là tâm điểm chú ý của dư luận quốc tế. Trần Thị Lý chính là bằng chứng sống tố cáo tội ác chiến tranh lúc đó.
Cuộc đối thoại với người ở lại
Ông Tuấn lên gác và lấy xuống gần như tất cả những gì còn lại của chị Lý. Những bức ảnh chụp chị nằm trên giường bệnh, rồi chụp chị lúc ở Liên Xô, Tiệp Khắc, Bungari, khi chị sang chữa bệnh và tố cáo tội ác chiến tranh.
Ông nhớ lại: Lúc đó vào năm 1968, tôi cũng từ chiến trường Quảng Đà ra Hà Nội. Trước đó tôi cũng đã biết và khâm phục Lý. Ra Hà Nội đến K5, ở Quảng Bá, Hồ Tây bây giờ, tôi được gặp Lý. Nom Lý gầy gò, tiều tuỵ, nhưng cảm phục Lý, lại nhân tình đồng hương, nên chúng tôi luôn gần nhau, tâm sự động viên nhau, rồi dần thành tình yêu. Chúng tôi cũng tổ chức một đám cưới rất đơn giản và phải chờ sau này đến năm 1978, mới làm thủ tục đăng ký kết hôn. Biết là không thể sinh nở được vì Lý có quá nhiều vết thương, chúng tôi xin bé Thuỳ Linh (lúc bé mới được vài ngày tuổi) để làm con nuôi.
Qua câu chuyện với ông Tuấn chúng tôi mới biết, đến tận năm 1992, có nghĩa gần 40 năm sau cái ngày hình ảnh anh hùng của Trần Thị Lý được cả thế giới biết đến, chị Lý mới được công nhận và phong tặng danh hiệu Anh hùng. Tại sao chị Lý không được phong tặng danh hiệu này ngay những năm 60 – 70 hoặc ngay sau khi giải phóng hoàn toàn đất nước? Ông Tuấn cười buồn lảng tránh: “Có lẽ các ổng cũng bận quá”.
Rất nhiều người không biết rằng sau ngày giải phóng, gia cảnh chị Lý rất nghèo. Cả 2 vợ chồng và cô con gái nhiều năm liền vẫn sống trong ngồi nhà cấp 4 tồi tàn ở trên đường Hải Phòng (Đà Nẵng). Có lúc vợ chồng chị phải sản xuất bia thủ công để kiếm sống.
Chị Lý mất ngày 20/11/1992 ở tuổi 59, chỉ sau khi chị được phong tặng danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang ít lâu. Sau này khi chị mất, Hãng phim tài liệu TƯ có làm một cuốn phim khá công phu về cuộc đời chị dựa vào cái tên trong bài thơ Người con gái VN của Tố Hữu. Một số nhà báo có về tận nơi tìm hiểu và viết về chị.
Ông Tuấn đưa cho tôi xem một số bức ảnh chị Lý chụp chung với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Có lẽ những bức ảnh là những kỷ vật quý giá nhất còn giữ lại của chị Lý. Mất một hồi lâu, ông Tuấn mang từ trên bàn thờ chị Lý xuống một chiếc mũ sắt. Đó là chiếc mũ sắt mà Bác Hồ đã tặng cho chị. Những kỷ vật còn lại chỉ còn cái màn, một lọ hoa và chiếc vali mà Bác Hồ tặng nhưng Viện bảo tàng Cách mạng VN ngoài Hà Nội đã “xin” mất.
Một kỷ vật nữa vẫn còn lưu giữ là cuốn sách Người con gái VN được dịch ra tiếng Trung Quốc trên có ghi bút tích của nhà thơ Chế Lan Viên “Kính tặng chị Trần Thị Lý. Nhờ chị Anh Thơ chuyển giúp. 1959”. Nét chữ đôi chỗ đã nhoè. Ông Tuấn cũng không biết chị Anh Thơ lúc đó là ai.
Đến bây giờ, gần 50 năm đã trôi qua, tôi có thêm được một may mắn khi đứng ngay trong ngôi nhà của chị Trần Thị Lý, gặp những người thân và được nghe kể về chị.
Những nhân chứng còn sót lại, đã từng sống, chiến đấu cùng chị Lý cũng không còn nhiều người như ông Bẩy Quang, người tổ chức đưa Trần Thị Lý ra miền Bắc, hay bà Bảy Vân, người giao liên cùng tổ với Lý. Nay họ đều đã ở tuổi ngoài 70, ốm yếu vì bệnh tật do lao tù của địch.
Rời nhà chị Trần Thị Lý, chúng tôi đi qua nghĩa trang Điện Bàn, nơi có mộ của Trần Thị Lý. Gió vẫn vi vút thổi trên cánh đồng lúa. Ngẫm lại những gì đã qua trong cuộc đời chị Lý, chúng tôi không khỏi cảm thấy chút se sắt buồn..
Để hoàn thành nhiệm vụ được giao, bà đã chủ động đề nghị với lãnh đạo đồng thời khuyên chồng lấy vợ khác để có thể thay bà chăm sóc mẹ già yếu, chồng bị đau ốm luôn.
Với giấy thông hành mang tên Trần Thị Mỹ, bà lên Hà Nội cùng một đồng chí liên lạc tên Hà trong vai chị dâu đi thăm em chồng đang trong Quân đội Quốc gia. Đến Hà Nội, chỉ trong một thời gian ngắn, bà đã xây dựng được một số cơ sở tin cậy ở nội thành
Ảnh thẻ căn cước của bà Đinh Thị Vân (1954). Tư liệu của ông Đinh Quang Như (Nam Định)
Chấp hành chỉ thị mở rộng địa bàn xuống Hải Phòng, Đinh Thị Vân tìm cách vượt qua mạng lưới kiểm soát dày đặc của địch, thu thập và cung cấp nhiều tin tức quan trọng cho cấp trên.
Tháng 10/1954, Đinh Thị Vân nhận lệnh bí mật vào Nam với vai người đi buôn vào Nam kiếm sống.
Tại thời điểm này, để hỗ trợ cho hoạt động của bà, cấp trên quyết định thông báo: “Đinh Thị Vân đã phản Đảng, bỏ nhiệm vụ chạy trốn vào Nam. Tuyên án tử hình vắng mặt”.
Trên cơ sở do Đinh Thị Vân xây dựng, nhiều cán bộ tình báo từ miền Bắc vào Nam đã nhanh chóng chui sâu vào hàng ngũ của địch, như Đoan ở Không quân, Phúc ở Hậu cần Quân sự, Quyền ở trường Võ bị Thủ Đức...
Đến giữa tháng 3/1956, đường dây liên lạc với Trung ương bị đứt, bà lên đường ra Huế và Quảng Trị tìm hiểu tình hình và tổ chức đường dây liên lạc ra Bắc nhưng không thành công. Bà quyết định tìm hướng liên lạc ra Bắc qua đường Campuchia. Do đó, việc liên lạc với cấp trên theo đường 14 được thiết lập, những tin tức quan trọng nhanh chóng được báo cáo về Trung ương.
Nhiệm vụ hoàn thành, trở về Sài Gòn, bà tiếp tục nhận nhiệm vụ: Tổ chức đường dây từ Sài Gòn qua Nha Trang – Đà Nẵng và Huế, bắt liên lạc với Trung ương thay cho đường dây quốc lộ 14 lên Pleiku. Đinh Thị Vân lại lên đường đi Đà Nẵng, Huế với vỏ bọc là người buôn vải và các mặt hàng thêu.
Tháng 8/1959, Đinh Thị Vân bị một tên phản bội chỉ điểm. Bị bắt và tra khảo dã man nhưng bà không khai nửa lời. Khi bị giải đến Sở Thú, bà lấy ghim cài tóc, khắc vào tường dòng chữ: “Tôi là Trần Thị Mỹ, bị bắt ngày 19-8-1959, qua an ninh quân đội, trại Vân Đồn, trại Lê Văn Duyệt. Hôm nay quay về đây, tôi sẵn sàng chết ở đây”.
Cuối năm 1963 đầu năm 1964, lợi dụng sự thay đổi chính quyền nguỵ còn nhiều sơ hở, với bản lý lịch người đi buôn bị bắt oan do quân ta bố trí và vận động bằng nhiều cách, ngày 28/5/1964, Đinh Thị Vân được trả tự do.
Ra tù, bà lập tức kiểm tra lại an toàn mạng lưới, rồi tìm cách chắp nối liên lạc với các đồng chí và cấp trên để nhận nhiệm vụ tìm hiểu ý đồ chiến lược của Mỹ - nguỵ với vai một người đi buôn vải, đan bít tất khoán, bán hàng tạp hoá...
Tháng 3/1969, bà được điều chuyển ra Hà Nội làm công tác huấn luyện cho đội ngũ những chiến sĩ trẻ tiếp bước làm nhiệm vụ đặc biệt.
Đinh Thị Vân chia tay đồng đội ở căn cứ Dương Minh Châu (Tây Ninh) để lên đường ra Bắc năm 1969 (Ảnh tư liệu của Họa sĩ Đinh Quang Tỉnh)
Ngày 25/8/1970, Bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân - anh hùng đầu tiên của ngành tình báo quốc phòng, với lời tuyên dương: “Đồng chí Thiếu tá Đinh Thị Vân là một cán bộ mẫu mực trung thành, tận tuỵ phục vụ nhân dân, phục vụ cách mạng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan trọng trong hoàn cảnh rất khó khăn”.
Thiếu tá Đinh Thị Vân (người đứng giữa) cùng đồng đội sau lễ tuyên dương Anh hùng LLVT năm 1970 (Ảnh Tư liệu của Họa sỹ Đinh Quang Tỉnh)
Sau khi giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Đinh Thị Vân nhận nhiệm vụ vào Sài Gòn giúp các cơ quan bảo vệ xác minh trả lại danh tính chính trị cho những đồng chí của ta hoạt động trong lực lượng địch, lập hồ sơ khen thưởng những người có công với cách mạng.
Năm 1977, bà được thăng hàm trung tá. Năm 1990, Đinh Thị Vân được thăng vượt cấp lên Đại tá.
Bà được Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý như Huân chương Kháng chiến hạng Nhất; Huân chương Chiến công hạng Nhất; 2 Huân chương Độc lập hạng Nhì; Huân chương Quân kỳ Quyết thắng...
Ngày 11/12/1995, Bà mất tại Hà Nội, thọ 79 tuổi.
Nữ tình báo Đinh Thị Vân với khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, tuyệt đối trung thành với Đảng, đã hi sinh hạnh phúc riêng, vượt qua mọi khó khăn, bảo vệ trọn vẹn mạng lưới tình báo do bà phụ trách. “...Tất cả những gì mà chị để lại cho những người còn sống là niềm tự hào kính phục. Chị là tấm gương sáng cho mọi người tiếp bước noi theo” (1).
Điếu văn tại tang lễ của Đại tá Đinh Thị Vân, do Thiếu tướng Vũ Chính, Thủ trưởng Tổng cục II – Bộ Quốc phòng đọc.


