Những Điều Chưa Kể Về Vị Đại Tướng Anh Dũng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
Những Điều Chưa Kể Về Vị Đại Tướng Anh Dũng Của Quân Đội Nhân Dân Việt Nam.
Chu Huy Mân tên khai sinh là Chu Văn Điều, sinh ngày 17/3/1913 tại xã Yên Lưu, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An (nay thuộc phường Trường Vinh, tỉnh Nghệ An).Ông sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo ở vùng đất nổi tiếng giàu truyền thống yêu nước và cách mạng.Ngay từ khi còn rất trẻ, Chu Văn Điều đã sớm chứng kiến cảnh người dân lao động bị áp bức dưới ách thực dân phong kiến.
Năm 1929, khi mới 16 tuổi, ông tham gia hoạt động cách mạng.Năm 1930, ở tuổi 17, ông được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương.Đây cũng là thời điểm phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ.
Trong những năm tháng sôi sục ấy, Chu Văn Điều tham gia Đội Tự vệ đỏ, trực tiếp bảo vệ cơ sở cách mạng và tham gia các hoạt động đấu tranh chống thực dân Pháp.Ông lần lượt giữ các chức vụ Bí thư chi bộ xã rồi Bí thư Phân huyện ủy Hưng Nguyên.
Năm 1935, ông đổi tên thành Chu Huy Mân, cái tên gắn liền với cuộc đời binh nghiệp sau này.
Từ năm 1937 đến năm 1943, thực dân Pháp liên tục bắt giữ ông. Ông bị giam ở nhiều nhà lao khác nhau từ Nghệ An đến Kon Tum. Trong thời gian tù đày, ông phải chịu nhiều cực hình nhưng vẫn giữ vững khí tiết của người cộng sản.Năm 1943, ông vượt ngục thành công khỏi nhà t.ù Đắk Tô và tiếp tục hoạt động bí mật tại miền Trung.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Chu Huy Mân bước vào quân đội và nhanh chóng trở thành một trong những cán bộ quân sự xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam.Ông từng giữ nhiều chức vụ chỉ huy quan trọng tại các Trung đoàn 72, 74 và 174.
Trong kháng chiến chống Pháp, Chu Huy Mân nổi tiếng là người chỉ huy dũng cảm, gần gũi chiến sĩ và có khả năng tổ chức chiến đấu rất hiệu quả.Năm 1951, ông được giao làm Chính ủy Đại đoàn 316. Đây là một trong những đại đoàn chủ lực mạnh nhất của Quân đội nhân dân Việt Nam thời điểm đó.
Năm 1954, Chu Huy Mân tham gia Chiến dịch Điện Biên Phủ với cương vị Chính ủy Đại đoàn 316. Đại đoàn 316 là một trong những đơn vị lập nhiều chiến công xuất sắc trong trận quyết chiến chiến lược làm thay đổi lịch sử dân tộc.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, ông được giao làm Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Việt Nam tại Lào.Ông trực tiếp giúp xây dựng lực lượng cách mạng Lào trong giai đoạn khó khăn nhất.
Năm 1958, ông được phong quân hàm Thiếu tướng.Đến năm 1961, ông giữ chức Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4.
Khi chiến tranh chống Mỹ bước vào giai đoạn ác liệt, Chu Huy Mân tiếp tục được giao những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng.Năm 1965, ông trở thành Tư lệnh kiêm Chính ủy Mặt trận Tây Nguyên. Đây là chiến trường có vị trí chiến lược sống còn đối với cả hai phía.
Từ năm 1967 đến năm 1975, Chu Huy Mân giữ chức Tư lệnh Quân khu 5. Dưới sự chỉ huy của ông, lực lượng vũ trang Khu 5 đã tiến hành nhiều chiến dịch lớn, gây cho đối phương những tổn thất nặng nề.
Trong mùa Xuân năm 1975, ông được giao nhiệm vụ Chính ủy Chiến dịch Huế - Đà Nẵng. Chiến dịch đã giải phóng hoàn toàn miền Trung chỉ trong thời gian rất ngắn, tạo bàn đạp quan trọng cho Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Sau ngày đất nước thống nhất, Chu Huy Mân tiếp tục đảm nhiệm nhiều chức vụ cấp cao.Ông là Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị và Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.Năm 1974, ông được phong quân hàm Thượng tướng.Đến năm 1982, ông được phong quân hàm Đại tướng.
Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, ông được trao tặng nhiều phần thưởng cao quý như:
Huân chương Sao Vàng
Huân chương Hồ Chí Minh
Huân chương Quân công hạng Nhất
Huân chương Chiến thắng hạng Nhất
Huân chương Kháng chiến hạng Nhấtcùng nhiều huân chương và huy chương cao quý khác.
Ngày 1/7/2006, Đại tướng Chu Huy Mân từ trần tại Hà Nội, hưởng thọ 93 tuổi.
Từ một thanh niên tham gia phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh đến vị Đại tướng của Quân đội nhân dân Việt Nam, cuộc đời Chu Huy Mân trải dài qua gần như toàn bộ những giai đoạn quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam thế kỷ XX.Ông là một trong số rất ít người vừa trực tiếp tham gia phong trào cách mạng từ những năm 1930, vừa góp mặt trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, đồng thời giữ những trọng trách cao nhất của Đảng, Nhà nước và Quân đội sau ngày đất nước thống nhất.


