Những điều chưa từng có hay “hoàn toàn không thể”
Những điều chưa từng có hay “hoàn toàn không thể”
Sự sáng tạo và ý chí quyết thắng trong chỉ đạo cũng như thực hiện của cả bộ máy từ trung ương đến mỗi người dân của nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ đã tạo nên những mô hình, những cách làm chưa có tiền lệ, khởi nguồn sâu xa từ tinh thần yêu nước và lòng căm thù quân xâm lược được khơi dậy, thổi bùng đúng cách và đúng lúc.
Từ những kinh nghiệm, cả thành công và lúng túng, vướng mắc trong việc huy động nhân tài, vật lực cho các chiến dịch lớn trước đó, ngày 27/7/1953, Hội đồng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 284-TTg thành lập Hội đồng Cung cấp mặt trận, với thành phần gồm Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng làm Chủ tịch, ông Nguyễn Văn Trân, Tổng Thanh tra Chính phủ là Phó Chủ tịch và một số ủy viên chọn trong các vị bộ trưởng, thứ trưởng, ủy viên Ủy ban kháng chiến hành chính khu và cán bộ cao cấp ở Trung ương có hoạt động liên quan. Sau khi thành lập, Hội đồng Cung cấp mặt trận Trung ương đã chỉ đạo thành lập một số Hội đồng Cung cấp mặt trận cấp liên khu, như Liên khu 4, Liên khu Việt Bắc, Liên khu 3 và cấp tỉnh như Thanh Hóa, Nghệ An, Phú Thọ, Sơn La…
Theo PGS, TS Ngô Đăng Tri: Mặc dù thời gian xây dựng và hoạt động không dài, mô hình cơ quan nhà nước hy hữu trong lịch sử Việt Nam này đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của mình, huy động và vận chuyển khối lượng lương thực, vũ khí to lớn từ hậu phương ra tiền tuyến.
Ở vào thời điểm đó, lực lượng bộ đội tham gia chiến dịch rất lớn, gồm bốn đại đoàn bộ binh (F308, F312, F316, F304), một đại đoàn công pháo (F351), quân số lên tới hơn 50 nghìn người, nên nhu cầu lương thực, thực phẩm, vũ khí… là rất lớn. Trong khi đó, Việt Bắc đang thiếu gạo, Tây Bắc nhiều bản làng đang bị đói. Vùng gần Điện Biên Phủ như Sơn La, Yên Bái thì mấy chiến dịch trước đó đã huy động nhiều, có nơi đã cạn. Do đó, Hội đồng Cung cấp mặt trận phải tổ chức huy động gạo chủ yếu từ Thanh Hóa, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, thực phẩm từ Bắc Giang, Thanh Hóa, trâu bò từ Nghệ An, Lạng Sơn… với quãng đường dài từ 500-700 km, quanh co qua nhiều núi cao, suối sâu… hết sức khó khăn.
Chính trong những hoàn cảnh hết sức ngặt nghèo đó, nhiều sáng tạo từ chính những người nông dân bừng bừng khí thế ủng hộ cho mặt trận đã làm nên những bất ngờ lớn, trong đó, “đoàn quân xe đạp thồ” được chính những chuyên gia quân sự hàng đầu thế giới và cả tướng lĩnh của quân đội viễn chinh Pháp khâm phục.
Hơn 21 nghìn “ngựa sắt”, với sự trớ trêu của lịch sử, bởi phần nhiều trong đó là những chiếc xe đạp hiệu Peugoet do nước Pháp sản xuất, đã được cải tiến, điều chỉnh, tăng độ cứng cho khung xe bằng cách hàn thêm sắt, buộc thêm gỗ vào tay lái để dễ điều chỉnh, dùng vải, quần áo cũ, săm cũ để gia cố, tăng độ bền cho săm, lốp… để biến thành những chiếc xe đạp thồ, vận chuyển lượng lớn vũ khí, đạn dược, thuốc men, lương thực… từ hậu phương xa xôi ra đến tiền tuyến. Chiếc xe đạp thồ của ông Trịnh Ngọc, dân công hỏa tuyến thị xã Thanh Hóa (nay là thành phố Thanh Hóa) đã lập nên kỷ lục chở nặng nhất bằng xe đạp thồ trong chiến dịch Điện Biên Phủ, khi chở được tới 345,5 kg; xe cút kít của ông Trịnh Đình Bầm (xã Định Liên, huyện Yên Định, Thanh Hóa) đạt thành tích 280 kg/chuyến tiếp vận…
Không chỉ vậy, nhiều loại phương tiện khác như thuyền, bè, ngựa, trâu… cũng theo bước chân những người nông dân phơi phới tinh thần quyết chiến và quyết thắng ngày ấy, vượt mọi khó khăn, cản trở, vượt lên cả bom đạn kẻ thù để làm nên một chiến dịch hậu cần mà các chiến lược gia hàng đầu của quân đội Pháp cho là “hoàn toàn không thể”.



